Sáp nhập thôn, sắp xếp tổ dân phố mới nhất, PGS.TS Trần Trọng Dương tên làng cổ kết đọng các tầng vỉa văn hóa làng xã
Câu chuyện về sáp nhập thôn, sắp xếp tổ dân phố, cách gọi tên làng, nhất là các làng cổ, tên thôn mới, tổ dân phố mới sau sáp nhập đang rất được dư luận quan tâm. Trao đổi với phóng viên Báo Dân Việt, PGS.TS Trần Trọng Dương, Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, nhà nghiên cứu lĩnh vực Hán Nôm, lịch sử, địa danh học lịch sử và văn hóa Việt Nam, cho rằng, cần có cách tiếp cận linh hoạt để hài hòa giữa yêu cầu tinh gọn bộ máy và bảo tồn không gian văn hóa làng truyền thống.
Trong đó, chuyên gia PGS.TS Trần Trọng Dương đề xuất mô hình “làng trong xã”, “làng trong phường” như một hướng đi để dung hòa giữa những giá trị, yêu cầu trong bối cảnh mới.
Clip: PGS.TS Trần Trọng Dương - Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Hán Nôm, lịch sử, địa danh học lịch sử và văn hóa Việt Nam, chia sẻ về nguyên do nhiều làng cổ tại Việt Nam đã tồn tại hàng trăm, thậm chí là hàng nghìn năm mà vẫn giữ được tên làng. Clip: Kiều Tâm
Tên làng cổ-kết đọng nhiều tầng vỉa văn hóa làng xã
Sắp xếp thôn, tổ dân phố là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và đang được các địa phương tổ chức thực hiện, rất được dư luận quan tâm. Trước chủ trương này, đã có nhiều ý kiến thảo luận về việc đề xuất đổi tên gọi làng, ấp, buôn, sóc... thành tên gọi chung là thôn. Từ góc nhìn của một nhà nghiên cứu lâu năm về văn hóa, xin ông cho biết, khái niệm “làng” và “thôn” có gì khác biệt? Sự đa dạng trong cách gọi tên làng, thôn, bản, ấp, mường, buôn, sóc, phum,... thể hiện điều gì về văn hóa Việt Nam?
- PGS.TS Trần Trọng Dương: Làng và thôn là hai đơn vị cư dân dưới cấp chính quyền cơ sở (xã, phường), tức nó không nhất thiết lúc nào cũng là đơn vị hành chính, nhưng chắc chắn làng là đơn vị văn hóa. “Làng” (gốc Việt) và “thôn” (gốc Hán, 村) có từ nghìn đời nay, và trở thành biểu tượng của sự đoàn kết cộng đồng.
Như nhiều người từng nói: “làng còn thì văn hóa còn”, “thôn- làng là đơn vị tế bào của văn hóa Việt Nam”: làng- nước. Nhưng làng và thôn chủ yếu là đơn vị cộng cư của người Việt, nhìn sang các tộc người khác hiện đang sinh trú trên lãnh thổ Việt Nam, ta thấy còn nhiều danh từ tương đương khác như bản- mường của các tộc người (Tày, Thái, Mường, Mông, Dao,…) ở vùng núi phía Bắc, buôn hay buôn làng của các tộc người ở Tây Nguyên, phum- sóc- ấp của các cộng đồng tộc người Khmer- Chàm- Việt ở đồng bằng sông Cửu Long.
Rồi ta còn biết đến một số đơn vị cổ như động, sách, giáp… qua các nguồn sử liệu. Tất cả các tên gọi này, bản thân nó đã mang trong mình những giá trị về bản sắc và sự đa dạng văn hóa Việt Nam, góp phần khẳng định văn hóa Việt Nam là văn hóa đa tộc người, đa dạng mà thống nhất, và là nền tảng cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Chân dung PGS.TS Trần Trọng Dương - Giảng viên Đại học Công nghiệp Hà Nội, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Hán Nôm, lịch sử, địa danh học lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ảnh: Kiều Tâm.
Có những làng cổ đã tồn tại hàng trăm, thậm chí là hàng nghìn năm mà vẫn giữ được tên làng. Dựa trên những nghiên cứu về văn hóa, theo ông, tên làng, thôn ở Việt Nam thường được hình thành dựa trên những yếu tố nào? Tại sao có những tên làng có thể tồn tại đến hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm?
- PGS.TS Trần Trọng Dương: Thứ nhất, yếu tố địa hình và vị trí địa lý – nhiều làng mang tên gắn với đặc điểm tự nhiên như đầm, bãi, sông, núi, gò, đồng, cồn.
Điều kiện tự nhiên đã tạo nên nhiều loại hình làng khác nhau: làng ven sông, làng châu thổ, làng trung du, làng duyên hải, làng chân núi, làng lưng non, làng trên đỉnh núi. Những điều kiện này đã in dấu trong tên làng, ví dụ như: làng Đầm, làng Noi, làng Dâu, làng Bãi, vạn Muối.
Thứ hai, yếu tố nghề nghiệp và sản phẩm thủ công – những làng nghề truyền thống thường lấy tên từ sản phẩm chính như làng Bát Tràng (gốm), làng Đồng Kỵ (gỗ), làng Vạn Phúc (lụa), làng Vòng (cốm).
Địa hình- sản vật tạo nên nhiều kiểu làng nghề khác nhau, dân các làng nghề đem sản vật đi bán ở các nơi, tạo thành các phường nghề nghiệp (phường buôn, phường chài, phường chèo, phường thợ…) tạo nên kiểu tụ cư mới “phường” ở chốn đô thị, và đặc biệt là hệ thống phố và phường ở kinh thành Thăng Long.
Thứ ba, yếu tố lịch sử: Nhiều làng được đặt theo tên vị thành hoàng, danh nhân, hoặc gắn với sự kiện lịch sử như làng Đông Ngạc (gắn với cụ Đỗ Thế Giai), làng Đình Bảng (quê hương Lý Công Uẩn), làng Chèm với danh nhân lịch sử Lý Ông Trọng- được nhân dân thờ cúng nghìn đời và gọi là Đức Thánh Chèm.
Đình Chèm là nơi thờ Đức Thánh Chèm (hay còn gọi là đức Hy Khang Thiên Vương Lý Ông Trọng). Đây là nơi thờ cúng tín ngưỡng của người dân ba làng: Làng Hoàng, làng Mạc và làng Chèm, đã có lịch sử hơn 2.000 năm tuổi. Ảnh: Gia Khiêm
Thứ tư, yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo, mỗi làng thôn là một đơn vị tôn giáo nơi thể hiện sự dung hòa của con người Việt Nam.
Mỗi làng đều có một thiết chế văn hóa tâm linh với đình làng (thờ Thành hoàng), chùa làng thờ Phật, văn chỉ thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền, và hệ thống các nhà thờ họ.
Tên làng có thể tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm ấy là bởi mỗi làng là một đơn vị văn hóa có cấu trúc gia tộc- và tâm linh. Cấu trúc này tạo nên tính bền vững (lịch sử), tính bản sắc (văn hóa), tính tự trị (nằm dưới hệ thống hành chính, nhưng vận hành bằng cơ chế lịch sử-văn hóa và tâm linh).
Một là, tính bền vững của tổ chức làng xã – người Việt hình thành từ sớm các làng tự quản, có bộ quan viên, hội đồng kỳ mục, hội đồng tộc biểu. Cấu trúc này duy trì liên tục qua các triều đại, tên làng vì thế được lưu giữ một cách có hệ thống.
Người dân, du khách hào hứng tham gia phần thi kéo lửa, thổi cơm tại hội làng Gia Dụ (tỉnh Phú Thọ). Ảnh: Hoan Nguyễn.
Hai là, nhu cầu về bản sắc và nhận diện cộng đồng – tên làng là yếu tố cốt lõi tạo nên “hồn làng”, gắn với tục thờ thành hoàng, lễ hội, nghề truyền thống, và các mối quan hệ dòng họ. Mất tên làng đồng nghĩa với xóa bỏ ký ức tập thể, điều mà các thế hệ trong làng luôn chủ động bảo vệ.
Ba là, sự can thiệp hạn chế từ chính quyền trung ương trong đời sống làng xã – người xưa thường tôn trọng địa danh thôn làng, ít khi thay đổi trừ khi có lý do đặc biệt.
Đến thời Pháp thuộc và hiện đại, dù có điều chỉnh hành chính, nhiều tên làng vẫn được bảo lưu như một lớp văn hóa sâu đậm. Chính sự kết hợp giữa nhu cầu nội tại của cộng đồng với cơ chế hành chính ổn định đã tạo nên sức sống trường tồn của thôn làng Việt Nam.
Xin ông chia sẻ thêm một số tên làng cổ khiến ông ấn tượng?
- PGS.TS Trần Trọng Dương: Tên làng cổ truyền là nơi kết đọng nhiều tầng vỉa văn hóa. Mỗi làng xưa cơ bản đều có hai tên, tên chữ (Hán) và tên Nôm. Tên chữ là để dùng cho văn bản hành chính, quan phương, vừa sang trọng vừa mang nhiều hàm ý tư tưởng và văn hóa. Còn tên Nôm là cái tên dân dã, thân thương, là tên đồng, tên bãi, tên họ tộc, tên danh nhân.
Ví dụ, làng Mọc có tên chữ là Nhân Mục, làng Sét có tên chữ là Thanh Liệt, làng Noi có tên nữa là Cổ Nhuế, làng Chèm còn gọi Từ Liêm,…
Nhưng tên Nôm là gốc, tên Hán dựa đó mà thành. Thanh Liệt vốn là hai chữ Hán dùng để ghi tổ hợp phụ âm đầu */t’lét/ của tiếng Việt từ thế kỷ XVII về trước, mà nay gọi là “Sét”, vì làng có thờ “Pháp Điện”.
Lễ hội 5 làng Mọc (Hà Nội) thu hút đông đảo người dân, du khách. 5 làng Mọc là cái tên gợi nhắc về một vùng đất cổ kính với lịch sử hàng trăm năm. Tiền thân của nơi đây là vùng Kẻ Mọc, gồm 7 ngôi làng trù phú. Trong số đó, 5 làng Giáp Nhất, Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Khoang đã cùng nhau "kết chạ" – một nghi thức kết nghĩa anh em thắm thiết. Về sau, khi Chính Kinh và Cự Lộc hợp nhất, vùng Kẻ Mọc chỉ còn lại 5 ngôi làng, cái tên "5 làng Mọc" ra đời từ đó. Ảnh: Anh Duy.
Còn “Từ Liêm” (sớm nhất từ đầu công nguyên) là để ghi từ */tlèm/, sau này hòa đúc thành “Chèm”. Đây là một từ Việt cổ đã mờ nghĩa/ mất nghĩa, dù mất nghĩa dù biến âm, nhưng nó đã tồn tại suốt hai ngàn năm. Chèm/ Từ Liêm, vừa là tên làng Chèm, vừa chỉ một vùng đất cổ “kẻ Chèm”, nơi có sông Từ Liêm chảy qua, nơi có Đình Chèm thờ Đức Thánh Chèm, ngay gần bến phà Chèm- nơi Huy Cận đứng ngắm sông nước mênh mang để viết nên bài thơ “Tràng giang” bất hủ.
Từ “làng Chèm” ta mới có địa danh hành chính “thôn Chèm” thế kỷ X, ôm trọn hai dải bờ bắc nam của sông Từ Liêm; từ “làng Chèm” ta mới có “huyện Từ Liêm” lẫy lừng trong sử sách, rồi sau này tách nhập thành “quận Nam Từ Liêm”, “quận Bắc Từ Liêm”. Dẫu có tách nhập ngàn năm, nhưng tên làng vẫn đó!
"Làng trong xã, làng trong phường": Hồn xưa trong thời mới
Quay trở lại với câu chuyện sáp nhập thôn, tổ dân phố; đề xuất đổi tên gọi làng, ấp, buôn, sóc... thành tên gọi chung là thôn. Trong thời gian qua, câu chuyện này đã nhận được rất nhiều ý kiến đa chiều. Có ý kiến cho rằng việc sắp xếp các cộng đồng dân cư, thống nhất tên gọi chung là thôn, tổ dân phố là để dễ dàng quản lý. Cũng có ý kiến cho rằng, điều này có thể ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa của cộng đồng dân cư, khiến văn hóa thiếu mất sự đa dạng, tinh tế. Trên thực tế, trong lịch sử, đã có nhiều làng bị mất tên gọi, đổi thành tổ dân phố sau sáp nhập như làng Đông Hồ nay là tổ dân phố Đông Khê, làng Đồng Kỵ nay là phường Đồng Nguyên… Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu về văn hóa, trăn trở với những văn tự cổ, ông có cảm nghĩ gì về câu chuyện này?
- PGS.TS Trần Trọng Dương: Theo tôi, mỗi một tên làng là một địa chỉ văn hóa, và đồng thời là chốn neo đậu “hồn làng” với những truyền thống văn hóa ngàn đời. Hàng trăm hàng ngàn tên làng tồn tại như những mã khóa để chúng ta tìm về với vốn cổ dân tộc.
Nào là “giò Chèm, nem Vẽ”, nào là “Làng Mái có lịch có lề / Có ao tắm mát có nghề làm tranh” ( làng Mái thuộc huyện Thường Tín xưa), nào là “Thân em như gốm Thanh Hà, Như chiếu Bàn Thạch trải đà khắp nơi" - Làng gốm Thanh Hà (Hội An)…
Tên làng, mộc mạc và giản dị, đã trở thành biểu tượng cho những vùng đất, là nơi tạo nên kí ức, để ai đi đâu về đâu cũng mang theo tên làng tên đất, để mình luôn nhắc nhớ về cội nguồn, về tổ tiên, lắng kết lại trong những thành ngữ thân thương “quê cha đất tổ”, “nơi chôn rau cắt rốn”.
Tên làng, mộc mạc và giản dị, đã trở thành biểu tượng cho những vùng đất, là nơi tạo nên kí ức, để ai đi đâu về đâu cũng mang theo tên làng tên đất, để mình luôn nhắc nhớ về cội nguồn, về tổ tiên. Ảnh: Dân Việt.
Làng là nơi mình sinh ra, là nơi cha mẹ ông bà mình nuôi mình lớn khôn, là nơi yên nghỉ của tổ tiên, và cũng là nơi mình muốn về nằm bên cạnh ông bà cha mẹ mình vào khúc cuối cuộc đời.
Làng, từ ngàn xưa, không nhất thiết phải trở thành một đơn vị phải quản lý bằng hành chính, mà nó là một chốn đi về của lòng người.
Kia kẻ Noi, này kẻ Sặt,… này làng Lủ, nọ làng Nôm,… những địa danh hồn hậu ấy chính là những mã văn hóa truyền đời trong kí ức của dân tộc, bất luận những đổi thay dâu bể và thời cuộc. Dù hòa bình hay chiến tranh, dù phong ba hay bão táp, tên làng vẫn ở đó, để chúng ta trở về…
Câu chuyện về hương ước làng sau sáp nhập cũng được nhiều bạn đọc quan tâm. Xin ông cho biết, văn hóa làng, hương ước đã được hình thành và gìn giữ trong dòng chảy lịch sử của Việt Nam?
- PGS.TS Trần Trọng Dương: Văn hóa làng và hương ước là một phần không thể tách rời trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Hương ước, hay còn gọi là "lệ làng", là những quy ước, điều lệ của làng xã, đóng vai trò như một "bộ luật" của cộng đồng làng xã để điều chỉnh các mối quan hệ, giữ gìn kỷ cương và bảo tồn truyền thống. Nó được hình thành từ rất sớm, sự tồn tại chính thức được ghi nhận ít nhất từ thế kỷ XV và phát triển cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về sau.
Đặc biệt, vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi lưu giữ số lượng hương ước lớn nhất, với hàng trăm bản được ghi chép lại (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, VASS).
Mỗi bản hương ước là sự chắt lọc trí tuệ của cộng đồng, thể hiện tính tự quản cao của làng xã Việt Nam. Nội dung của nó bao trùm mọi mặt đời sống, từ quy định về sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự, thuần phong mỹ tục, cho đến khuyến khích đạo đức, hướng thiện.
Ngày nay, nhiều địa phương đã xây dựng các bản hương ước, quy ước mới, bổ sung các nội dung về bảo vệ môi trường, nếp sống văn hóa mới, góp phần phát huy quyền làm chủ của người dân. Ảnh: Kiều Tâm.
Trải qua thời gian, hương ước không ngừng vận động, biến đổi để thích ứng với các chủ trương của nhà nước.
Ngày nay, nhiều địa phương đã xây dựng các bản hương ước, quy ước mới, bổ sung các nội dung về bảo vệ môi trường, nếp sống văn hóa mới, góp phần phát huy quyền làm chủ của người dân.
Đặc biệt, trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính hiện nay, việc gìn giữ và phát huy giá trị của hương ước càng trở nên cấp thiết.
Hương ước vẫn là một "nguồn di sản văn hóa" quý giá, cần được kế thừa và phát triển phù hợp với thực tế cuộc sống hiện đại.
Vậy theo ông, cần có những nguyên tắc và cách tiếp cận như thế nào để vừa bảo tồn được bản sắc văn hóa, ký ức cộng đồng, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính? Đồng thời, việc duy trì và điều chỉnh hương ước làng sau sáp nhập cần được thực hiện ra sao để không làm mai một các giá trị truyền thống?
- PGS.TS Trần Trọng Dương: Để dung hòa giữa bảo tồn bản sắc văn hóa làng truyền thống và đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính sau sáp nhập, theo tôi cần tuân thủ những nguyên tắc và cách tiếp cận sau đây:
Về nguyên tắc nền tảng, ta cần tôn trọng lịch sử và ký ức cộng đồng – không vì sáp nhập mà phủ nhận ranh giới tinh thần- tâm linh của các làng cổ.
Hai là, kế thừa có chọn lọc, ta nên giữ lại những quy định tốt đẹp về đạo đức, lễ nghĩa, tương thân tương ái; loại bỏ hủ tục hoặc điều khoản trái pháp luật.
Ba là ta cần thực hiện nguyên tắc đồng thuận – mọi điều chỉnh phải do dân bàn bạc, chính quyền chỉ đóng vai trò định hướng và thẩm định.
Cách tiếp cận khi thực hiện, ta nên lấy thôn (làng cũ) làm “đơn vị văn hóa cốt lõi” và xã mới/ phường mới làm “đơn vị hành chính cơ sở”, ví dụ: phường Đông Ngạc có những làng cổ bên dưới như làng Chèm, làng Vẽ, phường Xuân Đỉnh có làng Xuân Tảo, làng Giàn... Sao ta không thử mô hình: “làng trong xã”, “làng trong phường”?
Như vậy, công tác hành chính vẫn đảm bảo thống nhất về luật pháp, quy hoạch; văn hóa làng vẫn vận hành dưới cấp phường/ xã và tự quản qua hội đồng cao niên, dòng họ, các sinh hoạt lễ hội riêng.
Theo PGS.TS Trần Trọng Dương, để dung hòa giữa bảo tồn bản sắc văn hóa làng truyền thống và đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính sau sáp nhập, cần tuân thủ nguyên tắc về tôn trọng lịch sử và ký ức cộng đồng, kế thừa có chọn lọc và nguyên tắc đồng thuận. Ảnh: Viết Niệm.
Đối với việc duy trì và điều chỉnh hương ước sau sáp nhập, ta không nên xóa bỏ hương ước cũ mà hãy soạn thảo một bản quy ước khung của xã mới (gồm các điều khoản chung về an ninh, môi trường, xây dựng nông thôn mới), đồng thời tích hợp các điều khoản “thuần phong mĩ tục” trong hương ước cổ truyền.
Quy trình điều chỉnh cần làm là: khảo sát, thu thập ý kiến từ các bô lão, trưởng thôn, tổ chức hội nghị nhân dân, sau đó chính quyền phê duyệt.
Cuối cùng, tổ chức lễ công bố và ghi nhận bản hương ước mới như một sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, tránh tư tưởng “áp đặt từ trên xuống”. Chỉ có cách đó, những giá trị làng xưa mới không bị mai một mà còn sống động trong tổ chức mới.
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Trọng Dương!
PGS.TS Trần Trọng Dương hiện đang công tác tại Khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam, Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Đại học Công nghiệp Hà Nội. Ông từng công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
PGS.TS Trần Trọng Dương là một nhà nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực Hán Nôm, lịch sử, địa danh học lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Ông đã xuất bản hơn 25 cuốn sách và công bố hơn 130 bài viết trên các tạp chí trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu của ông tập trung vào các vấn đề lịch sử văn hóa Việt Nam, Tam giáo, và kiến trúc cổ Tam giáo.
PGS.TS Trần Trọng Dương cũng là người sáng lập và đứng đầu nhóm Sen Heritage, thực hiện nhiều dự án số hóa di sản kiến trúc, tiêu biểu là việc phỏng dựng chùa Một Cột thời Lý bằng công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR), giúp tái hiện sống động lịch sử và văn hóa Việt Nam