Từ “NTM đáng sống” đến “NTM hạnh phúc”: Bước chuyển quan trọng trong giai đoạn mới gắn với giảm nghèo bền vững
Ông Phương Đình Anh, Phó Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhấn mạnh: Sau hơn một thập kỷ “làm nên kỳ tích” về hạ tầng, giảm nghèo và nâng cao thu nhập, chương trình nông thôn mới đang bước vào giai đoạn mới, chuyển từ mục tiêu “đáng sống hơn cả đô thị” sang xây dựng “nông thôn mới hạnh phúc”, gắn chặt với giảm nghèo bền vững và nâng chất đời sống người dân.
Ông Phương Đình Anh, Phó Chánh Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển nông thôn Việt Nam tham gia tọa đàm trực tuyến “Giảm nghèo bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, tích hợp để tăng nguồn lực đầu tư cho nông dân” do Báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt tổ chức.
Thời gian qua, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) đã chứng minh tính đúng đắn của một chủ trương lớn, góp phần thay đổi căn bản diện mạo nông thôn Việt Nam. Cùng với Chương trình giảm nghèo bền vững, NTM không chỉ mang lại những con đường bê tông, những ngôi trường khang trang hay hệ thống hạ tầng đồng bộ, mà còn giúp người dân nông thôn có cuộc sống ấm no hơn, văn minh hơn.
Tại tọa đàm trực tuyến “Giảm nghèo bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, tích hợp để tăng nguồn lực đầu tư cho nông dân” do Báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt tổ chức, ông Phương Đình Anh, Phó Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa ra nhiều nhận định quan trọng về thành quả giai đoạn 2021 – 2025, cũng như những đóng góp của chương trình đối với công cuộc giảm nghèo bền vững.
Nông thôn mới Việt Nam: Từ thiếu thốn đến “đáng sống hơn cả đô thị”
Nhìn lại hành trình từ năm 2010, khi chương trình NTM mới bắt đầu, cả nước chỉ đạt bình quân 4,7 tiêu chí/xã, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn dừng ở mức 12,8 triệu đồng/năm và tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn tới 17,35% (theo chuẩn đơn chiều). Đó là bức tranh nông thôn với nhiều gam màu tối, từ hạ tầng giao thông chưa phát triển đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân còn nhiều thiếu thốn.
Thế nhưng sau 15 năm thực hiện, diện mạo nông thôn đã thay đổi ngoạn mục. Đến năm 2024, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đã đạt 54 triệu đồng/năm, gấp hơn bốn lần so với thời điểm khởi đầu. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống dưới 2%, đưa Việt Nam trở thành hình mẫu quốc tế trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo và phát triển nông thôn.
Không chỉ vậy, các chỉ tiêu cụ thể của giai đoạn 2021 – 2025 cũng đạt và vượt kế hoạch. Đến nay, cả nước đã có 79,3% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, gần cán đích mục tiêu 80%. Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao là 42,4%, vượt chỉ tiêu 40% và cao gấp hơn năm lần so với cuối năm 2021. Đặc biệt, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu đạt 12,3%, vượt xa chỉ tiêu 10% và gấp hơn 17 lần so với cuối năm 2021.
“Có thể khẳng định, nông thôn Việt Nam đã thay đổi căn bản. Từ hạ tầng điện, đường, trường, trạm được đầu tư đồng bộ, nhiều làng quê nay còn có cảnh quan xanh – sạch – đẹp đến mức “đáng sống hơn cả đô thị””, ông Phương Đình Anh nhấn mạnh.
Sợi dây liên kết giữa nông thôn mới và giảm nghèo bền vững
Theo Phó Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, điều quan trọng là NTM không chỉ dừng lại ở việc xây dựng hạ tầng, mà còn gắn liền với tái cơ cấu nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và nâng cao giá trị gia tăng. Nhờ đó, chương trình trở thành “bà đỡ” cho công cuộc giảm nghèo bền vững.
Một minh chứng rõ rệt là Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP). Tính đến nay, cả nước đã có hơn 17.000 sản phẩm OCOP của trên 9.000 chủ thể, trong đó 126 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao. OCOP không chỉ góp phần khẳng định thương hiệu nông sản Việt, mà còn tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân, nhất là phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với đó, du lịch nông thôn cũng là điểm sáng. Từ những hoạt động mang tính tự phát ban đầu, nhiều địa phương đã từng bước chuyên nghiệp hóa, hình thành những điểm đến hấp dẫn, góp phần tạo thêm việc làm và thu nhập cho bà con. Không ít hộ nghèo đã có cơ hội thoát nghèo nhờ dịch vụ homestay, ẩm thực truyền thống, hay các hoạt động trải nghiệm nông nghiệp gắn với du lịch cộng đồng.
Ngoài sản xuất và dịch vụ, các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường ở nông thôn đều có những chuyển biến rõ rệt. Cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp hơn, công tác xử lý rác thải, nước thải được chú trọng. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc cũng góp phần củng cố sự bình yên cho làng quê.
Theo ông Phương Đình Anh, kết quả quan trọng nhất mà NTM mang lại không chỉ là những con số về hạ tầng hay thu nhập, mà chính là sự thay đổi tư duy của người dân.
Ban đầu, nhiều xã, tỉnh coi NTM như một chương trình đầu tư của Nhà nước, chờ đợi nguồn vốn từ Trung ương để hoàn thiện hạ tầng. Thế nhưng, nhờ công tác tuyên truyền, đặc biệt là sự đồng hành của báo chí, quan niệm này đã thay đổi. Người dân hiểu rằng Nhà nước chỉ giữ vai trò dẫn dắt, hỗ trợ một phần vốn mồi, còn chủ thể chính là cộng đồng dân cư.
Khi nhận thức được điều đó, người dân không chỉ tham gia mà còn hăng hái đóng góp. Nhiều hộ hiến đất, góp hàng nghìn mét vuông và hàng trăm ngày công lao động để xây dựng đường làng, nhà văn hóa. Có nơi, bà con đã hoàn thành phần vốn đối ứng trước cả khi ngân sách Nhà nước kịp bố trí. “Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho sự chủ động, tích cực và niềm tin của người dân vào chương trình”, ông Đình Anh khẳng định.
Những thuận lợi, khó khăn và bài học rút ra
Đánh giá tổng thể, ông Phương Đình Anh cho rằng, chương trình NTM đạt được những kết quả ấn tượng là nhờ ba yếu tố thuận lợi lớn: sự lãnh đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, sự đồng thuận và đóng góp to lớn của người dân, cùng với việc triển khai theo từng giai đoạn kế thừa kinh nghiệm.
Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn không ít. Sự chênh lệch giữa các vùng miền là trở ngại lớn, khi miền núi và vùng sâu, vùng xa gặp nhiều thách thức hơn đồng bằng. Lực lượng lao động trẻ ở nông thôn có xu hướng di cư ra thành phố và khu công nghiệp, để lại khoảng trống nhân lực. Năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế, đặc biệt ở vùng khó khăn. Ngoài ra, việc triển khai cùng lúc ba chương trình mục tiêu quốc gia (NTM, giảm nghèo bền vững, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số) cũng gây khó khăn trong lồng ghép và phân bổ nguồn lực.
Từ thực tiễn triển khai, nhiều bài học quý giá đã được rút ra đó là, ở đâu cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là người đứng đầu quyết liệt, tâm huyết thì nơi đó thành công; ở đâu người dân được trao quyền bàn bạc, quyết định thì nơi đó có kết quả nhanh và bền vững hơn; nguồn lực cần tập trung trọng điểm, tránh dàn trải; và cán bộ cơ sở chính là “chìa khóa” quyết định thành công của chương trình.
Đặc biệt, ông Phương Đình Anh nhấn mạnh vai trò không thể thiếu của báo chí và công tác tuyên truyền trong quá trình triển khai NTM. Theo ông, nếu chỉ có cơ quan quản lý nhà nước thì khó có thể lan tỏa được chính sách tới người dân. Chính báo chí đã giúp bà con hiểu đúng bản chất của chương trình, từ đó thay đổi nhận thức và hành động.
Không chỉ dừng lại ở việc giải thích cơ chế, báo chí còn lan tỏa những điển hình tiên tiến. Một hộ dân ở Thanh Hóa hiến hàng nghìn mét vuông đất xây công trình công cộng, nhờ được báo chí phản ánh đã trở thành tấm gương lan tỏa đến tận Hà Giang, Tây Nguyên. Nhiều xã đọc báo thấy nơi khác làm tốt hơn, đã sinh ra “tự ái tích cực”, quyết tâm làm bằng hoặc hơn. Đó chính là sức mạnh của truyền thông trong việc thúc đẩy phong trào thi đua xây dựng NTM.
"Trước đây, khi chưa thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quy mô các xã còn nhỏ, có xã đồng bằng diện tích rất hạn chế. Nhưng nay, ba đến sáu xã được gộp lại thành một xã lớn, không gian phát triển đã thay đổi hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2021–2025 trở nên “chật chội”, như một tấm áo quá nhỏ so với quy mô xã mới. Vì vậy, trong chủ trương đầu tư giai đoạn tiếp theo, chúng tôi buộc phải tính toán lại, từ quy hoạch, tổ chức sản xuất đến phát triển hạ tầng", ông Phương Đình Anh nhấn mạnh.
Ví dụ, trước kia một xã chưa sáp nhập chỉ có vùng nguyên liệu 100–300 ha. Nay, khi xã lớn hơn, vùng nguyên liệu có thể lên đến 500–700 ha, thậm chí hàng nghìn ha. Với quy mô này, việc tổ chức sản xuất, xây dựng OCOP phải thiết kế theo hướng phát triển sản phẩm hàng hóa quy mô lớn.
Tương tự, về hạ tầng và thiết chế văn hóa – xã hội. Nếu trước kia hội trường xã chỉ cần đáp ứng 100–200 người, thì nay xã lớn đòi hỏi trung tâm văn hóa – thể thao, hội trường có sức chứa 300–400 người trở lên. Nếu giữ nguyên mô hình cũ thì rõ ràng là không còn phù hợp.
Công tác môi trường cũng vậy. Trước đây, xã nhỏ có thể xử lý rác bằng một lò đốt, một bãi chôn lấp cấp xã. Nhưng nay, khi gộp lại, không thể duy trì 5–6 lò đốt, 5–6 bãi rác nhỏ lẻ. Từ đó, buộc phải có quy hoạch lại, xây dựng khu xử lý tập trung, cải tiến công nghệ để đáp ứng yêu cầu cao hơn.
Phó Chánh Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương cho rằng: "Song song với việc điều chỉnh bộ tiêu chí, chúng tôi cũng phải cập nhật chỉ đạo mới từ Trung ương, như: Các nghị quyết gần đây của Bộ Chính trị, đặc biệt “bộ tứ trụ cột”, yêu cầu bộ tiêu chí giai đoạn mới phải đề cập đến khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ở nông thôn.
Thực hiện Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, mỗi địa phương phải khuyến khích hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ chuyển đổi thành doanh nghiệp tư nhân, để kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng.
Tất cả những yếu tố này, cộng với sự thay đổi về quy mô xã, đặt ra yêu cầu rất cụ thể Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026–2035 chắc chắn phải có những điều chỉnh lớn. Đồng thời, việc tích hợp hai chương trình giảm nghèo bền vững và NTM được xem là hướng đi đúng đắn, vừa tránh chồng chéo về địa bàn, vừa tối ưu hóa nguồn lực.
“Nông thôn mới hạnh phúc” – mục tiêu cuối cùng
Một khái niệm mới được nhắc đến nhiều gần đây là “nông thôn mới hạnh phúc”. Theo ông Phương Đình Anh, mục tiêu tối thượng của NTM chính là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Khi đời sống đầy đủ, tinh thần phong phú, họ sẽ tự nhiên cảm thấy hạnh phúc.
Trong thực tế, trước khi công nhận một xã hay tỉnh đạt chuẩn, Mặt trận Tổ quốc đều tiến hành khảo sát mức độ hài lòng của người dân, và chỉ khi tỷ lệ hài lòng đạt trên 90% thì mới được công nhận. “Người dân hài lòng thì họ hạnh phúc. Do đó, việc đánh giá hạnh phúc nên để Mặt trận chủ trì lấy ý kiến nhân dân, còn chính quyền dựa vào kết quả đó để công nhận”, ông phân tích.
Để chương trình đi vào chiều sâu, việc huy động sức dân là then chốt. Ông Phương Đình Anh cho rằng có hai yếu tố quyết định. Thứ nhất, người dân phải thấy lợi ích thiết thực từ những công trình, dự án họ tham gia. Thứ hai, mọi nguồn lực phải được công khai, minh bạch. Khi dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng, họ sẽ sẵn sàng đóng góp.
Không chỉ người dân trong thôn xã, mà cả những người con xa quê cũng sẽ tích cực gửi tiền, gửi công sức về khi thấy quê hương làm ăn minh bạch, rõ ràng. Đó chính là nền tảng để huy động sức dân một cách bền vững, lâu dài.
Chương trình NTM đã chứng minh sức sống bền bỉ của một chủ trương lớn, mang lại những thay đổi toàn diện cho đời sống nông thôn. Nhưng đây không phải là hành trình có điểm kết thúc. Qua mỗi giai đoạn, mục tiêu, giải pháp sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới.
Trong chặng đường sắp tới, NTM không chỉ hướng tới hoàn thành tiêu chí, mà còn xây dựng không gian nông thôn xanh – sạch – đẹp, đáng sống, thích ứng với biến đổi khí hậu, hình thành cộng đồng văn minh, nhân văn, gắn kết và hạnh phúc.
Như ông Phương Đình Anh khẳng định, thành công của nông thôn mới là sự kết hợp hài hòa giữa sự lãnh đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, sự đồng thuận và chủ động của người dân, cùng với sự tập trung nguồn lực một cách thông minh. Đó chính là con đường để nông thôn Việt Nam tiếp tục vươn tới những tầm cao mới, trở thành nơi “giàu đẹp, văn minh, đáng sống” đúng như kỳ vọng.