Thứ ba, 28/06/2022 (GMT+7)
Giá nông sản
Cơ giới hóa sản xuất tại làng nghề truyền thống - Bánh đa làng Đợi
17:10 - 18/05/2022
(Cổng ĐT Hội NDVN) – Để nói về nghề sản xuất bánh đa sợi thì không đâu bằng Thái Bình – nơi cung cấp lượng lớn bánh đa sợi tới các tỉnh, thành phố trên cả nước. Làng Đợi (Dụ Đại) thuộc xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ được coi là làng nghề truyền thống làm bánh đa có tiếng khắp vùng của tỉnh. Từ năm 2003, làng Dụ Đại được ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng công nhận “Làng nghề truyền thống làm bánh đa”.

Bánh đa làng Đợi được sản xuất bằng máy móc hiện đại. Ảnh Hồng Việt

Ở làng Đợi, nghề bánh đa đã có từ lâu đời, xuất hiện vào khoảng cuối những năm 60 của thế kỉ trước, tuy nhiên do nhu cầu tiêu thụ không nhiều, việc sản xuất chỉ dừng lại ở mức tự cung. Lâu dần, bánh đa được nhiều người biết đến, từ đời cha truyền con nối và dần dần nghề làm bánh đa ngày càng phát triển hơn, thu hút đông đảo người dân trong vùng tham gia sản xuất và tiêu dùng.

 
Ngay khi bước vào cánh cổng chào của làng đã bắt gặp những dàn phơi bánh quen thuộc nối tiếp nhau hai bên đường. Người dân nơi đây luôn tất bật với những mẻ bánh đa, người làm, người phơi, người bán, người đi giao, mỗi người một việc tạo nên nếp sống nhộn nhịp của làng nghề truyền thống.

 
"Ở đây đa số nhà nào cũng biết làm bánh đa, có đến 80% hộ dân là sống bằng nghề này. Còn lại người thì đi làm công ty, người buôn bán nhỏ phục vụ cho dân trong làng. Cái nghề này cũng vất vả thế nên lớp trẻ giờ cũng chẳng mấy người theo nghề"- Cụ Rà một lão làng cho hay.

 
Tấp nập từ 4h sáng, những phiên chợ làng bắt đầu mở cửa, người dân tranh thủ đợi những mẻ bánh mới để ra chợ sắm đồ, người mớ rau, người con cá, miếng thịt... Bất kể đêm hay ngày, những cỗ máy làm bánh luôn hoạt động cùng người dân, liên tục sản xuất ra những mẻ bánh chất lượng để cung cấp đi muôn nơi. Nếp sống này đã xuất hiện từ rất lâu, có lẽ là từ khi nghề làm bánh đa đi sâu vào đời sống sản xuất, kinh doanh của ngôi làng này.

 
Cơ giới hóa trong sản xuất để nâng cao đời sống người dân

Nói về quá trình làm nghề của người dân làng Đợi, nếu so sánh với trước kia thì đã có rất nhiều thay đổi, cả về phương thức sản xuất, thu nhập và nhân công.

 
Về cơ bản, để làm được bánh đa trước tiên phải ngâm gạo, sau đó thêm chút gia vị (muối, dầu) rồi đem xay cho thật nhuyễn, mịn. Tiếp đó là bắt đầu với công đoạn tráng bánh, phơi khô và thu về thành phẩm.

 
Ban đầu, việc làm bánh hoàn toàn thủ công. Sau khi ngâm, gạo sẽ được đổ vào cối đá, xay nhuyễn bằng tay, về sau phát triển hơn thì chuyển qua xay bằng mô tơ. Tiếp đến sử dụng nồi đồng để tráng bánh, thường là nồi đồng 30, đun nước thật sôi, bọc miệng nồi bằng 1 lớp vải làm khung, dùng gáo để đổ bột và tráng bánh sao cho bánh thật mảnh, dẹt. Cuối cùng thì úp vung lại cho phần bột chín và khéo léo gỡ lớp bánh tráng ra để tiếp tục làm những lớp bánh khác. Bánh đa ngày trước thì không được cắt sợi như bây giờ, việc phơi bánh cũng phải phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Người thợ cũng cần khéo léo, tỉ mỉ để hoàn thành được một mẻ bánh ngon. Tuy có vất vả nhưng lợi nhuận đem lại thì gấp đôi- đó cũng là lý do vào những năm 1954, nghề làm bánh đa tại đây bắt đầu phát triển mạnh.

 
Người dân trong làng luôn cố gắng cải tiến máy móc sản xuất nhằm mang đến những thay đổi lớn đối với nghề làm bánh đa. Ngày nay, khi kĩ thuật công nghệ đã gắn liền với nghề nông thì cuộc sống người dân cũng được cải thiện rất nhiều. Việc cơ giới hóa, hiện đại hóa với những cỗ máy siêu năng suất, tiết kiệm chi phí, công sức đã mang lại nguồn lợi lớn cho người dân.

 
Gia đình chú Lê Hữu Phong- một trong những hộ tiêu biểu với 40 năm kinh nghiệm sản xuất bánh đa truyền thống. Hiện, gia đình chú đang sở hữu một xưởng sản xuất bánh đa lớn, cung cấp sản phẩm thô cho người dân trong làng. Dù đã trải qua biết bao giai đoạn khó khăn của nghề làm bánh đa nhưng chú Phong vẫn luôn gắn bó và yêu nghề.

 
Chú cho biết: Một chiếc máy công nghiệp lớn như của gia đình chú có giá đầu tư khoảng hơn 1 tỷ đồng, song không thể phủ nhận về năng suất và hiệu quả mà nó mang lại. Mỗi ngày, xưởng sản xuất ra từ 3- 6 tấn bánh đa. Máy sản xuất liên tục suốt ngày đêm, mỗi ca chỉ cần khoảng 3 nhân công chính đã có thể hoàn thành lượng lớn công việc. 

 

“… không có thời gian cố định. Công việc luôn chân luôn tay, mệt thì mình nghỉ mà không mệt thì cứ làm”- Ông Lê Hữu Phong, chủ xưởng sản xuất bánh đa lớn tại làng Đợi.

Xưởng của chú Phong hiện có 7 công nhân chính, còn lại là nhân công làm thời vụ. Mỗi nhân công làm thuê tại xưởng có thu nhập bình quân từ 200.000- 300.000 nghìn đồng/ngày. So với trước kia, thu nhập của gia đình chú cũng tăng lên gấp 4- 5 lần, sau khi trừ đi các chi phí, lợi nhuận thu về 30- 50 triệu đồng/tháng. 

 
Chú Phong chia sẻ: "Giờ thì không còn phải lo lắng phụ thuộc vào thời tiết quá nhiều vì mình đã có máy sấy rồi. Khoảng thời gian khó khăn là khi thời tiết nóng bức, người tiêu dùng thường ít ăn bánh đa. Tuy nhiên, bù lại vào những dịp lễ, Tết, lượng khách đặt hàng cũng nhiều lắm. Nghề này được cái khá ổn định dù có hơi vất vả, những ngày dịch dã cũng không bị ảnh hưởng nhiều".

 
Hầu hết các hộ gia đình trong làng không còn sản xuất thủ công nữa. Cả làng hiện có 6 máy sản xuất bánh đa lớn, vừa cung cấp sản phẩm thô cho các hộ trong làng vừa xuất bán ra bên ngoài. Nếu trước kia cả làng có trên 100 máy nhỏ bán thủ công thì giờ chỉ còn 25 máy, số hộ còn lại sẽ sử dụng máy cuộn, máy đóng gói và thu mua bánh thô từ các xưởng lớn để gia công tiếp thành phẩm.

 
Như vậy, có thể thấy làng Đợi giờ đây đang dần phát triển theo hướng công nghiệp hóa. Những hộ dân làm nghề đã có sự liên kết với nhau, xưởng lớn cung cấp bánh thô cho xưởng nhỏ gia công và một bộ phận khác thì thu mua và xuất bán ra bên ngoài.

 
Cái tâm trong nghề tạo nên những mẻ bánh nức tiếng gần xa

Do yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao nên bánh đa làng Đợi cũng phải cần nhiều giải pháp hơn để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu. Các xưởng lớn bắt đầu hình thành thương hiệu cá nhân, chú trọng hơn trong khâu đóng gói thành phẩm xuất đi. Trên mỗi gói bánh đa đều có ghi rõ tên xưởng, địa chỉ, số điện thoại...

 
Bánh đa hiện có hai loại trắng và đỏ, với giá thành khác nhau tùy theo từng loại gạo. Vài năm trước, loại gạo quy, gạo vê được sử dụng rộng rãi bởi bánh làm ra sợi dai, ngon, thơm. Tuy nhiên, hai loại gạo này hiện có giá thành cao. Bánh làm từ gạo quy sẽ có màu đục nên không có nhiều khách hàng ưa chuộng. Loại gạo phổ biến nhất mà người dân trong làng hiện đang sử dụng để làm bánh là gạo Xuân Mai và Khang Dân nhờ giá thành ổn định, cho ra bánh trắng, thơm.

 
Điều đặc trưng mang đến sự khác biệt của làng Đợi so với những khu vực sản xuất bánh đa khác có lẽ là sự gắn bó lâu đời của người dân làng nghề. Họ luôn chú trọng việc lựa chọn nguyên liệu, gạo ngon, bột tơ, mịn, chín đủ độ, phơi thật ráo sẽ cho ra mẻ bánh dai, thơm. Công thức để làm bánh đa rất dễ nhưng phải kĩ càng, tỉ mỉ, cẩn thận. Mặt khác, nhu cầu của khách hàng gần đây cũng tăng cao, vì thế đòi hỏi người sản xuất càng phải cẩn thận hơn.


Trải qua gần trăm năm hình thành và phát triển, bánh đa làng Đợi đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng, xuất hiện trong mỗi bữa ăn của gia đình người Việt. Đây cũng là một trong những hương vị quê hương đặc trưng của vùng đất "Chị Hai năm tấn"- Thái Bình. 

Hồng Việt
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
Tỷ giá