Thứ tư, 13/11/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
Bất bình đẳng giới- nguyên nhân của bạo lực gia đình
15:14 - 30/09/2019
(Cổng ĐT HND)- Bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Luật Bình đẳng giới đề ra mục tiêu tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực nhưng trên thực tế vẫn tồn tại sự bất bình đẳng.
Việt Nam có chỉ số bất bình đẳng giới là 0.337, xếp thứ 71/195 quốc gia, vùng lãnh thổ (Ảnh minh họa)


Tại Việt Nam chỉ số bất bình đẳng giới là 0.337, xếp thứ 71/195 quốc gia, vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong việc đảm bảo bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ.
 
 
Nguyên nhân là xã hội Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng phong kiến và Nho giáo. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu, bén rễ vào đời sống nhiều thế hệ khiến cho khoảng cách giới vẫn còn tồn tại trong nhiều lĩnh vực.
 
 
Một biểu hiện của tư tưởng này là sự bất bình đẳng về giáo dục. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ học sinh nữ ở cấp tiểu học và trung học sơ sở thấp hơn học sinh nam, nhất là ở các vùng nông thôn nghèo và vùng dân tộc thiểu số. Sau mỗi kỳ nghỉ hè, đặc biệt là sau mỗi cấp học thì các em nam có nhiều cơ hội quay trở lại học tiếp hơn so với các em nữ. Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi học còn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, do trường nội trú ở quá xa nhà và ở một số nơi vẫn còn hủ tục tảo hôn.
 
 
Về kinh tế, trên thị trường lao động, tỷ lệ lao động nữ phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với mức 31,8% của lao động nam. Cùng trình độ, công việc, lao động nữ đang có thu nhập thấp hơn các nam đồng nghiệp 12% ở vị trí lãnh đạo, 19,4% ở vị trí chuyên môn, kỹ thuật bậc cao và 15,6% ở nhóm lao động giản đơn.
 
 
Chênh lệch giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn tồn tại. Khi tiếp nhận một lao động nữ trẻ thì các chủ doanh nghiệp thường e ngại về thời gian 6 tháng nghỉ thai sản. Nhiều doanh nghiệp buộc lao động nữ ký thêm một phụ lục trong hợp đồng lao động là không được mang thai trong thời gian 2 năm đầu làm việc. Đồng thời, lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực.
 
 
Đặc biệt hiện nay, thu nhập bình quân của lao động nữ luôn thấp hơn nam giới. Theo Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội), mức lương bình quân hằng tháng của lao động nữ khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn so với lao động nam (5,19 triệu đồng) khi làm cùng một công việc. Lý do chính là vì phụ nữ phải chăm sóc con, đảm đương việc gia đình nên ngày công không cao bằng nam giới.
 
 
Về chính trị - xã hội, tỷ lệ nữ giới làm công tác quản lý, lãnh đạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng.
 
 
Về vị thế xã hội, sở hữu tài sản, nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản giá trị cao. Hầu hết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mang tên chủ hộ là nam giới. Tình trạng này có thể khiến phụ nữ bị mất quyền sở hữu trong trường hợp ly hôn hay hưởng thừa kế. Nam giới thường ra quyết định về đầu tư kinh doanh của hộ gia đình và việc sử dụng thu nhập. Hạn chế trong sở hữu tài sản làm giảm khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các cơ hội tín dụng và đầu tư.
 
 
Trong gia đình, phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu. Mỗi phụ nữ Việt Nam sử dụng khoảng 5 giờ/ngày để làm việc nhà, chăm sóc gia đình, cao hơn nam giới từ 2 đến 2,5 giờ/ngày. Trẻ em gái dành thời gian cho việc học ít hơn trẻ em trai khoảng 4-6 giờ/tuần.
 
 
Việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế. Tỷ lệ tử vong sản phụ còn cao so với một số nước trong khu vực. Mức giảm tỷ lệ tử vong sản phụ trong nhiều năm qua còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ nữ có bảo hiểm y tế (tính trong số người khám chữa bệnh) tăng lên qua các năm, tuy nhiên còn thấp hơn nam giới.
 
 
Tình trạng phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái ngày càng gia tăng. Theo số liệu của Bộ Y tế, đến năm 2018, tỷ số giới tính khi sinh là 115,1 bé trai/100 bé gái. Theo các chuyên gia, sự mất cân bằng giới của Việt Nam trong 20-25 năm sau là hết sức nghiêm trọng.
 
 
Bất bình đẳng giới trong các hoạt động dân số - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và sức khỏe sinh sản vẫn nặng nề. Vai trò của nam giới tham gia KHHGĐ còn hạn chế, phụ nữ được coi là người phải chịu trách nhiệm thực hiện KHHGĐ. Dĩ nhiên, việc mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ. Song trên thực tế, mang thai khi nào và sinh bao nhiêu con lại thường do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định, có hay không sử dụng biện pháp tránh thai để giãn khoảng cách sinh hoặc không sinh con cũng thường do người chồng, gia đình chồng quyết định.
 
 
Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những vấn đề khác như bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục. Theo số liệu thống kê từ cuộc điều tra quốc gia về bạo lực gia đình, 58% số phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực và trung bình cứ 3 phụ nữ lại có một phụ nữ bị bạo lực.
 
 
Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững đã nêu rõ mục tiêu như: Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái trong mọi lĩnh vực và ở mọi nơi; giảm đáng kể mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái nơi công cộng hoặc nơi riêng tư, bao gồm cả hình thức bóc lột tình dục và các hình thức bóc lột khác; đảm bảo sự tham gia đầy đủ, hiệu quả và cơ hội bình đẳng tham gia lãnh đạo của phụ nữ ở tất cả các cấp hoạch định chính sách trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội;… cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới; tiến đến xoá bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời có mang định kiến về giới; thường xuyên tổ chức các buổi toạ đàm, sinh hoạt, nói chuyện về bình đẳng giới trong các cơ quan, đơn vị, trong các khu dân cư…
 
 
Tiếp tục hoàn thiện, đẩy mạnh thực hiện các quy định của pháp luật, các chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới. Cần thay đổi các quy định hiện hành còn chưa phù hợp, hạn chế bình đẳng giới và cần xoá bỏ khuôn mẫu giới ngay tại các văn bản quy phạm pháp luật.
 
 
Lồng ghép công tác bình đẳng giới vào nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và chương trình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương. Xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, phân biệt giới để răn đe trong xã hội. Các trường hợp này cần phổ biến rộng rãi bằng nhiều hình thức như: Tổ chức các phiên toà lưu động; tuyên truyền miệng tại tổ dân phố, các khu dân cư; lồng ghép vào các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương để tạo hiệu ứng lan toả tốt nhất đủ sức cảnh báo, răn đe để người dân biết và không vi phạm.
 
 
Tuy pháp luật đã có quy định cụ thể về nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính, nhưng trên thực tế cần bảo đảm cơ chế triển khai thực hiện các quy định này trên thực tế. Cần nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về lợi ích kinh tế và xã hội của bình đẳng giới và nhất là thay đổi tư duy của người sử dụng lao động nhằm xoá bỏ những định kiến và rào cản đối với cả nam và nữ.
 
 
Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có cơ chế giám sát các cơ sở lao động trong việc thực hiện chế độ thai sản, cung cấp và xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện tốt nhất cho cả lao động nam và nữ; đảm bảo phụ nữ và nam giới được tạo cơ hội bình đẳng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề; trong lương hay thậm chí là trong thi đua, khen thưởng…
 
 
Các địa phương đã triển khai mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: “Câu lạc bộ bình đẳng giới”, tổ công tác “tư vấn, hỗ trợ bạo lực giới”, xây dựng “Nhà tạm lánh” hỗ trợ người bị bạo hành về giới… đã phát huy tác dụng trên thực tế. Tùy vào điều kiện từng địa phương mà cần duy trì, nhân rộng các mô hình này.

Anh Tuấn
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
41.100
41.360
Vàng nhẫn
41.070
41.520
Vàng nhẫn
41.070
41.620
Tỷ giá
EUR
26165.13
GBP
29948.81
USD
23260