Thứ năm, 24/09/2020 (GMT+7)
Giá nông sản
Việt Nam: Nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu xây dựng xã hội bình đẳng giới
15:00 - 26/06/2020
(Cổng ĐT HND) – Trong Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển bền vững được các quốc gia cam kết thực hiện đã chứng tỏ rằng phát triển kinh tế phải luôn gắn liền với bình đẳng giới và đảm bảo tiến bộ xã hội.

Tại Việt Nam, hiện vẫn còn sự chênh lệch khá lớn giữa vai trò và vị thế xã hội giữa nam giới với phụ nữ

 
Thực tế từ xưa đến nay cho thấy, trong quan niệm của khá nhiều gia đình Việt Nam vẫn luôn cho rằng đàn ông và đàn bà đương nhiên khi sinh ra đã được phân định đảm trách những vai trò rất khác nhau theo hình thức “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Nghĩa là trong mỗi gia đình, đàn ông luôn được coi như trụ cột chính; còn phụ nữ chỉ giữ trọng trách sinh con, đẻ cái, chăm sóc việc nội trợ, lo liệu thu vén cho gia đình...

 
Chính vì định kiến và suy nghĩ ấy mà nhiều người phụ nữ cho rằng mình cần phải làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ trong gia đình, hy sinh mọi thứ để giúp người chồng có thể chuyên tâm phát triển, xây dựng sự nghiệp. Và tất yếu, chính điều này đã tạo nên những “rào cản” vô hình ngăn cách phụ nữ được bình đẳng, được tự tin để khẳng định bản thân cũng như có cơ hội phát triển tài năng của chính mình.
 

Tại Việt Nam, hiện vẫn còn sự chênh lệch khá lớn giữa vai trò và vị thế xã hội của người phụ nữ. Trong cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở do Tổng cục Thống kê- Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành vào năm 2019 cho thấy: Phụ nữ chiếm khoảng 50,2% dân số; chiếm 49% lực lượng lao động của cả nước (tương đương với nam giới).

 
Tuy nhiên, phụ nữ lại thường phải làm những công việc nặng nhọc với mức lương nhận được thấp hơn so với nam giới. Đồng thời, tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ cũng chiếm khá cao so với lao động nam do họ bị hạn chế về một số điều kiện như: Sức khỏe yếu; thời gian nghỉ sinh và nuôi con kéo dài (thường là 6 tháng); cơ hội tìm được việc làm phù hợp sau khi sinh còn thấp…

 
Mặt khác, chính sự phân công lao động theo giới vẫn đang còn rất nhiều bất công trong cả gia đình và xã hội. Cụ thể, trong xã hội hiện nay vẫn có quan niệm rằng coi những công việc nhà đương nhiên là chỉ dành cho phụ nữ; còn cánh đàn ông, sau giờ làm việc lại thường thấy họ xuất hiện ở các quán bia, quán ăn… Như vậy, số giờ lao động có hưởng lương trong các công sở, nhà máy của cả nam giới và nữ giới về cơ bản là bằng nhau. Tuy nhiên, thời gian phụ nữ phải dành cho công việc nhà lại thường cao gấp đôi so với nam giới; trong khi đây đều là những công việc không được tính lương lao động.

 
Trong những cuộc điều tra xã hội học được tiến hành ở khắp nơi trong cả nước từ nhiều năm qua đều đã có chung một kết quả rằng: Phụ nữ thường phải làm việc khoảng 14- 16 tiếng/ngày; trong khi nam giới chỉ là 8- 9 tiếng/ngày.

 
Điều này cũng đồng nghĩa rằng sau những giờ tan ca làm việc ở công sở hay nhà máy, phụ nữ sẽ lại tất bật lao đi đón con rồi trở về nhà làm các công việc gia đình (nấu cơm, dọn dẹp…). Lâu dần, sức khỏe của phụ nữ bị vắt kiệt, thời gian bị bào mòn. Họ hầu như không có thời gian riêng dành để giải trí, đọc sách hay sinh hoạt văn hóa; thậm chí không đủ để nghỉ ngơi, tái sản xuất sức lao động cho ngày hôm sau.

 
Bên cạnh đó, những năm qua, tình trạng bạo lực trên cơ sở giới, đặc biệt là vấn nạn bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái đã và đang trở thành tiếng chuông đáng báo động, nó diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành của nước ta. Đây chính là hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, được coi là một trở ngại rất lớn trong nỗ lực và tiến trình xóa bỏ bất bình đẳng giới của các cấp, các ngành trong cả nước.
 

Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái không chỉ gây ra những ảnh hưởng về mặt thể xác, tinh thần cho nạn nhân, mà nó còn dẫn tới thiệt hại về kinh tế cho cả gia đình và xã hội. Mặt khác, bạo lực cũng chính là nguyên nhân làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như gia tăng tình trạng đói nghèo ở các quốc gia trên thế giới.

 
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân chính của tình trạng bạo lực trên cơ sở giới đều bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giới, định kiến giới. Theo đó, xã hội thường coi trọng sự thống trị của nam giới, đồng thời hạ thấp vai trò, vị trí của phụ nữ và trẻ em gái.

 
Theo số liệu thống kê của ngành chức năng cho thấy: Có 58% phụ nữ khi được hỏi đều cho biết họ đã từng phải chịu ít nhất một trong ba hình thức bạo lực về thể chất, tinh thần và tình dục trong đời. Bên cạnh đó, điều đáng lo ngại hiện nay là tình trạng bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng gây nên những bức xúc trong xã hội. Đáng lo hơn khi phụ nữ, trẻ em gái không chỉ là nạn nhân của bạo lực gia đình mà còn là đối tượng bị mua bán, xâm hại tình dục và chịu nhiều hình thức bạo lực ngoài phạm vi gia đình…

 
Có thể khẳng định một điều rằng tiếng nói của các nạn nhân bị bạo lực, bị xâm hại sẽ thiếu đi sức mạnh nếu không nhận được sự giúp đỡ, chia sẻ từ người thân và của những người xung quanh. Đồng thời, vấn nạn bạo lực cũng sẽ không thể chấm dứt nếu thiếu đi sự chung tay, cùng vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

 
Trước thực trạng trên, những năm qua, công tác bình đẳng giới cũng như phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta dành sự ưu tiên và quan tâm đặc biệt; thực hiện nhiều bước đột phá cả về nhận thức và hành động. Nhờ đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được các quốc gia trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

 
Cùng với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ tiến bộ và tạo được bình đẳng; vấn đề này còn được thể chế hóa thành các văn bản luật như: Luật Bình đẳng giới (năm 2006), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007)… Đồng thời, ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016- 2020; Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020... để bảo đảm quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế...

 
Kết quả, công tác bình đẳng giới trong lao động của nước ta đạt được nhiều kết quả khả quan. Thống kê cho thấy, khoảng 45,6% lực lượng lao động trong xã hội là phụ nữ; số lượng lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài, được hỗ trợ việc làm trong nước liên tục tăng; tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ chỉ còn khoảng 1,85%.

 
Bên cạnh đó, các mô hình hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ ở khu vực nông thôn, miền núi, lao động nữ di cư tiếp tục phát huy hiệu quả. Như vậy, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam hiện đang đi làm cao hơn so với phần lớn các quốc gia khác trên thế giới.

 
Năm 2019, tỷ lệ phụ nữ của Việt Nam biết chữ là 94,6%; ước tính năm 2020 sẽ đạt 98%. Như vậy, trong 20 năm qua, tỉ lệ biết đọc, biết viết của phụ nữ tăng 7,7%; khoảng cách chênh lệch về tỉ lệ biết đọc, biết viết giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp đáng kể.
 

Nổi bật là tỷ lệ nữ tham gia chính trị tại tất cả các cấp đã có sự chuyển biến tích cực. Theo đó, tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam ngày càng tăng và có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung.

 
Đồng thời, ngày càng có nhiều phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cao và có vai trò quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Hiện nước ta có tỷ lệ phụ nữ chiếm 27,3% tổng số đại biểu Quốc hội, được đánh giá là cao nhất Đông Nam Á. Ngoài ra, tỷ lệ phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp là trên 20%; trong kinh doanh, phụ nữ chiếm 30% các chủ doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ…

 
Đáng chú ý, Việt Nam còn được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua; được Liên hiệp quốc đánh giá là điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ.

 
Theo xếp hạng năm 2018 của Liên hiệp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới, Việt Nam đứng thứ 68/162 quốc gia được xếp hạng về bình đẳng giới. Theo chỉ số khoảng cách giới tính toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 2019, Việt Nam đứng thứ 87/153 quốc gia được xếp hạng về bình đẳng giới.

 
Một quốc gia phát triển bền vững và “không ai bỏ lại phía sau” là một quốc gia mà nơi đó, mọi phụ nữ và trẻ em gái không còn chịu bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào, không còn là nạn nhân của bất kỳ hình thức bạo lực nào ở mọi lúc, mọi nơi. Và để đạt được mục tiêu đó, tất cả chúng ta phải cùng hành động, cùng chung tay thực hiện bằng trách nhiệm và nỗ lực của tất cả các cấp, các ngành và toàn thể cộng đồng.


 

Thu Anh
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
55.400
55.850
Vàng nhẫn
53.350
53.850
Vàng nhẫn
53.350
53.950
Tỷ giá