Thứ sáu, 19/07/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại giai đoạn II (2019- 2022):
Cải thiện sinh kế, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho người sản xuất rừng và trang trại
21:57 - 24/06/2019
(Cổng ĐT HND) – Đó là mục tiêu chính  được các cấp, các ngành cùng nhau bàn bạc, phối hợp để triển khai đạt hiệu quả Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) giai đoạn II (2019 – 2022) tại buổi Hội thảo Lập kế hoạch hoạt động vừa diễn ra hôm nay (24/6), tại Hà Nội. Buổi Hội thảo do Trung ương Hội NDVN (T.Ư Hội NDVN) phối hợp với tổ chức FAO tại Việt Nam tổ chức.

 
Tham dự Hội thảo có các đồng chí lãnh đạo Ban Hợp tác Quốc tế; đại diện Tổ chức Nông Lương Liên Hợp quốc (FAO) tại Việt Nam; đại diện Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp & PTNT); Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam); các Thúc đẩy viên Chương trình FFF ở Trung ương và địa phương cùng đại diện lãnh đạo UBND, Hội ND, hội viên, nông dân của 04 tỉnh, thành Hội tham gia Chương trình.


 
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Trưởng Ban phụ trách Ban Hợp tác Quốc tế- T.Ư Hội NDVN, Giám đốc Chương trình FFF giai đoạn II Mai Bắc Mỹ cho biết: Thời gian qua, Ban Thường vụ T.Ư Hội NDVN đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo các cấp Hội tổ chức nhiều chương trình, hoạt động, dự án nhằm giúp hội viên, nông dân xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, sản xuất lâm nghiệp, nông- lâm nghiệp gắn với trồng rừng, ngăn chặn phá rừng, quản lý, bảo vệ rừng và đa dạng sinh học; qua đó, giúp hội viên, nông dân gia tăng thu nhập và giá trị từ rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển và quản lý rừng bền vững.
 
 
Tại Hội nghị, Ban cố vấn Chương trình đã nêu bật những kết quả tích cực mà  giai đoạn I (2015- 2017) đã thực hiện thành công như: Góp phần nâng cao năng lực cho các tổ chức, nông dân làm rừng và trang trại cũng như cán bộ Hội các cấp về phát triển tổ chức, cách thức sản xuất kinh doanh rừng và trang trại theo chuỗi giá trị; các thành viên THT, HTX hiểu được lợi ích của việc liên kết, hợp tác trong sản xuất kinh doanh, có thêm thông tin, kiến thức mới về thị trường; cùng nhau góp vốn để đầu tư, chế biến nhằm gia tăng giá trị sản phẩm; tìm kiếm các đối tác thu mua sản phẩm với giá tốt hơn; nâng cao kiến thức, kỹ thuật sản xuất; hiểu về quản lý, phát triển rừng bền vững…

 
Cũng trong giai đoạn I, với mục tiêu chính “Hỗ trợ các tổ chức trồng rừng và trang trại phát triển sinh kế và tự ra quyết định trên diện tích rừng và trang trại của họ”, Chương trình đã đạt được một số thành công cụ thể gồm: Quản lý, hỗ trợ các đơn vị thực hiện 14 Dự án nhỏ tại 4 tỉnh (Bắc Kạn, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ) thông qua việc thành lập và đưa vào hoạt động 14 THT, HTX (Gỗ, lâm sản ngoài gỗ, trồng chè, bưởi, chăn nuôi gà…). Đáng chú ý, nếu như ở thời điểm năm 2015 mới thành lập được 7 THT thì đến năm 2017 đã phát triển và thành lập được 11 THT và 3 HTX (trong đó, có 5/14 đơn vị này tham gia vào chuỗi thị trường, gia tăng từ 5- 20% giá trị sản phẩm và thu nhập cho các thành viên tham gia vào THT, HTX).

 
Chương trình FFF giai đoạn I cũng đã giúp người sản xuất rừng và trang trại cải thiện cách nhìn nhận thị trường cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh; cùng nhau đầu tư, chế biến giúp gia tăng giá trị sản phẩm. Nhờ đó, các THT, HTX tăng thu nhập, phát triển kinh tế; đội ngũ cán bộ Hội các cấp được nâng cao về năng lực giúp hoạt động tư vấn, cung cấp các dịch vụ tốt hơn. Ngoài ra, Chương trình cũng đã giúp người sản xuất rừng và trang trại tăng tính đoàn kết trong cộng đồng, gắn kết các THT, HTX với chính quyền địa phương, các cơ quan, ban ngành, cùng nhau sử dụng nguồn vốn xã hội đạt hiệu quả.

 
Để thực hiện có hiệu quả Chương trình, các THT, HTX đã xây dựng kế hoạch sản xuất, quản lý rừng gắn với công tác bảo vệ môi trường; đồng thời, áp dụng những mô hình sản xuất hiện đại để góp phần làm giảm thiểu tình trạng biến đổi khí hậu. Qua đó, giúp các THT, HTX phát triển sinh kế, rừng được quản lý bền vững.


Chủ tịch Hội ND tỉnh Bắc Kạn Lưu Văn Quảng phấn chia sẻ, Chương trình đã giúp các sản phẩm tinh dầu hồi của địa phương gia tăng giá trị

 
Chia sẻ kinh nghiệm tại Hội thảo, Chủ tịch Hội ND tỉnh Bắc Kạn Lưu Văn Quảng cho biết: Là một đơn vị được tham gia Chương trình trong giai đoạn I, những kết quả mà các cấp Hội trong tỉnh đạt được sau khi các ngành chức năng tiến hành nghiệm thu và đánh giá cho thấy rất khả quan. Nếu như trước đây, đối với các sản phẩm gỗ hay quế, hồi của tỉnh, bà con nông dân thường chịu phụ thuộc rất lớn bởi các thương lái; giá cả thu mua lại bị động, bấp bênh, bị thương lái ép giá nên bà con rất thiệt thòi.

 
Từ khi tham gia Chương trình, các THT được tập huấn theo kế hoạch; hội viên, nông dân được nâng cao về năng lực, tạo điều kiện đi tham quan học tập ở những mô hình đã triển khai thành công… Từ đó, giúp bà con thay đổi cơ bản từ nhận thức cho đến hành động, biết tự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh sao cho đạt hiệu quả, các sản phẩm đầu ra đạt tiêu chuẩn và chứng chỉ quốc tế.

 
“Cụ thể, đối với 5 THT đang hoạt động trên địa bàn hiện có 67 thành viên tham gia (trong đó có 33 thành viên nữ), bà con đã biết cách tính định lượng các khối gỗ để từ đó biết tính quy đổi ra thành giá tiền. Mặt khác, các THT đầu tư mua máy móc về bóc gỗ sau khi khai thác giúp các sản phẩm gia tăng giá trị khá lớn. Hay như thành lập 1 HTX về sản phẩm hoa hồi của địa phương để liên kết các hộ cùng sản xuất mặt hàng này. Sau khi đi học tập kinh nghiệm của các mô hình đã thành công, hiện THT đã biết đầu tư trang bị thêm máy móc để chưng cất thành sản phẩm tinh dầu hoa hồi, đóng gói bao bì đẹp, được đăng ký nhãn hiệu sản phẩm. Nhờ đó, giá trị sản phẩm hiện đã nâng lên tới 1 triệu đồng/lít tinh dầu, các thành viên có thu nhập khá, nâng cao đời sống”- Chủ tịch Hội ND tỉnh Bắc Kạn Lưu Văn Quảng phấn khởi chia sẻ.


Phó Chủ tịch Thường trực Hội ND tỉnh Yên Bái Hoàng Xuân Long cho biết Chương trình đã giúp 2.300 ha trồng gỗ keo trong tỉnh được cấp chứng chỉ FSC 
 

Cùng là đơn vị tham gia Chương trình từ giai đoạn I, Phó Chủ tịch Thường trực Hội ND tỉnh Yên Bái Hoàng Xuân Long cũng khẳng định thêm lần nữa những kết quả đạt được đối với bà con nông dân trên địa bàn. Đối với mặt hàng quế, hồi vốn là thế mạnh đặc trưng của tỉnh, hiện đã thành lập được HTX Quế hồi Đào Thịnh và được Công ty Quế hồi Việt Nam đánh giá cao về chất lượng sản phẩm. Từ mô hình ban đầu chỉ có 1,7 ha canh tác, đến nay toàn tỉnh đã tăng lên thành 500 ha sản xuất. Đặc biệt, hiện đã có hàng chục sản phẩm của HTX đã được đưa đi xuất khẩu vào một số thị trường tại Châu Âu vốn nổi tiếng với những rào cản thương mại hết sức khó khăn.

 
“Đối với chuỗi phát triển rừng trồng gỗ keo của tỉnh, trước đây mới có khoảng 1.757 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC. Sau khi Hội đứng ra liên kết với Công ty TNHH Công nghiệp Hòa Phát và đã trực tiếp tiến hành ký kết giữa Công ty với 31 nhóm hộ (khoảng 493 hộ dân) cùng tham gia chuỗi sản xuất các sản phẩm gỗ chất lượng cao, xuất khẩu chủ yếu cho tập đoàn IKEA, giúp bà con nông dân gia tăng thu nhập. Đến cuối năm 2018, mô hình tiếp tục phát triển thêm 5 xã nữa đăng ký tham gia vào chuỗi giá trị. Hiện tổng diện tích canh tác trồng gỗ keo trong toàn tỉnh đã được cấp chứng chỉ FSC đạt 2.300 ha”- Ông Hoàng Xuân Long cho biết.


Các đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm

 
Tại Hội thảo, các đại biểu cũng đóng góp những kinh nghiệm, sáng kiến nhằm xây dựng kế hoạch thực hiện FFF tại Việt Nam hiệu quả và thành công, giúp nông dân sản xuất nhỏ, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng và người dân sống dựa vào rừng được cải thiện sinh kế, giảm nghèo, tăng cường bình đẳng giới, nâng cao khả năng phục hồi, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng cường sự tham gia của họ trong quá trình hoạch định chính sách…

 
Trong giai đoạn II (2019- 2022), Chương trình FFF đặt ra mục tiêu “Các tổ chức của người sản xuất rừng và trang trại (THT, HTX) trong đó có phụ nữ, thanh niên và người dân tộc thiểu số trở thành các tác nhân thay đổi chủ yếu đối với cảnh quan chống chịu biến đổi khí hậu và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương”.

 
Địa bàn hoạt động của Chương trình FFF giai đoạn II được thực hiện chủ yếu trên 4 tỉnh gồm: Bắc Kạn, Yên Bái, Hoà Bình, Sơn La. Trong đó,
 Hội ND của 2 tỉnh mới tham gia là: Hoà Bình, Sơn La.

 
Đối tượng tham gia Chương trình lần này là các tổ chức người sản xuất rừng và trang trại (THT, HTX, nhóm nông dân sản xuất nhỏ sống dựa vào rừng), khuyến khích sự tham gia của phụ nữ, thanh niên và người dân tộc thiểu số. Qua đó nhằm đạt được những kết quả quan trọng như: Các cơ chế, chính sách liên quan tới các THT, HTX được thúc đẩy thuận lợi hơn thông qua các diễn đàn liên ngành, đa ngành; khả năng kinh doanh, tiếp cận thị trường và tài chính của các THT, HTX được tăng lên thông qua chuỗi giá trị gắn bình đẳng giới và cung cấp cung cấp dịch vụ cho các thành viên; giảm thiểu, thích ứng, chống chịu đối với biến đổi khí hậu được cải thiện thông qua việc tham gia trực tiếp của các THT, HTX và lồng ghép với các biện pháp sinh kế tổng hợp; tiếp cận các dịch vụ văn hóa và xã hội được cải thiện và bình đẳng.

 
Phát biểu tại Hội thảo, Trợ lý Trưởng đại diện FAO Việt Nam Nguyễn Song Hà đánh giá: Các tổ chức sản xuất rừng và trang trại tại Việt Nam đang là tác nhân quan trọng trong chuỗi cung ứng của ngành gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Thu nhập từ rừng và trang trại sẽ tạo động lực tái tạo rừng và quản lý rừng bền vững.
 
 
Phát biểu kết thúc Hội thảo, Giám đốc Chương trình FFF giai đoạn II Mai Bắc Mỹ nhấn mạnh:
 Quan điểm của Chương trình FFF là các tổ chức của người sản xuất rừng và trang trại (FFPOs) là tác nhân chính làm thay đổi cảnh quan và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. Thông qua cuộc Hội thảo này sẽ giúp các thành viên tham gia hiểu rõ hơn về Chương trình FFF giai đoạn II; đồng thời, giúp Ban Quản lý Chương trình FFF Trung ương và các tỉnh có được chi tiết kế hoạch các hoạt động trong năm 2019. Thông qua đó thống nhất được cách thức triển khai, cơ chế phối hợp thực hiện giữa Ban Quản lý Chương trình FFF Trung ương với Ban Quản lý các tỉnh và các bên liên quan.

 
Bình Minh
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
39.600
39.900
Vàng nhẫn
39.500
40.000
Vàng nhẫn
39.500
40.100
Tỷ giá
EUR
26814.57
GBP
29242.68
USD
23310