Thứ hai, 10/12/2018 (GMT+7)
Giá nông sản
Tuyên Quang: Sản xuất theo hướng hàng hóa- Nâng cao giá trị cây chè
16:21 - 29/11/2018
(Cổng ĐT HND) – Thời gian qua, thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2015- 2020, các cấp, các ngành trong tỉnh đã xác định chè là loại cây trồng chủ lực của địa phương nên tập trung mọi điều kiện để phát triển. Việc tái cơ cấu ngành chè cũng đã giúp gia tăng giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè đặc sản, góp phần nâng cao đời sống cho người lao động, đồng thời tạo sự ổn định về kinh tế- xã hội ở khu vực nông thôn.

Xác định chè là loại cây trồng chủ lực, lãnh đạo địa phương đã tạo mọi điều kiện để nông dân phát triển diện tích


 
Đến nay, diện tích trồng chè trong toàn tỉnh đạt hơn 8.700 ha; năng suất chè búp tươi cũng tăng trưởng đều qua từng năm, từ 72,7 tạ/ha nay đã tăng lên 80,4 tạ/ha. Tổng sản lượng chè búp tươi đạt hơn 65.600 tấn (tăng gần 3.500 tấn so với thời điểm năm 2014) và đạt 93% so mục tiêu đến năm 2020. Nhờ đó, giá trị sản xuất từ cây chè chiếm 7,64% trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt của tỉnh.

 
Bên cạnh đó, đối với tỷ lệ cơ cấu các giống chè của tỉnh cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực. Cụ thể: Giống chè trung du hiện có khoảng 4.100 ha, chiếm 47,4%; chè lai có 2.800 ha, chiếm khoảng 30% diện tích toàn vùng; 286 ha các giống chè đặc sản như Phúc Vân Tiên, Bát Tiên, Kim Tuyên, Ngọc Thúy…

 
Đáng chú ý, từ khi tích cực thực hiện tái cơ cấu ngành chè theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với việc xây dựng thương hiệu, các đơn vị trồng chè đã luôn chú trọng đề cao quy trình sản xuất sạch.

 
Kết quả, toàn tỉnh hiện có 44,17 ha chè được chứng nhận VietGAP; tổ chức Rainforest đã cấp giấy chứng nhận cho 825 ha chè nguyên liệu của Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm và Công ty cổ phần Chè Tân Trào đủ tiêu chuẩn. Nhờ tích cực đi theo hướng sản xuất sạch nên giá trị và thương hiệu của sản phẩm chè hiện đã được nâng cao, có sức cạnh tranh lớn trên thị trường tiêu thụ cả ở trong nước và phục vụ việc xuất khẩu.

 
Song song với hoạt động tập trung phát triển các vùng nguyên liệu chè, lãnh đạo ở các địa phương còn thường xuyên quan tâm, chú trọng phát triển việc liên kết tổ chức sản xuất đối với các doanh nghiệp đang đóng trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo đầu ra tiêu thụ sản phẩm một cách ổn định.

 
Đến nay, toàn tỉnh đang có 45 doanh nghiệp, Hợp tác xã, Tổ hợp tác, hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh chế biến, tiêu thụ chè. Sản phẩm chè luôn được bảo đảm an toàn thực phẩm theo đúng cam kết của doanh nghiệp đã ký với đối tác (tiêu chuẩn của EU). Nhờ đó, giá thành sản phẩm trong khâu chế biến giảm xuống, giá bán chè khô tăng lên qua từng năm.

 
Đồng thời, các vườn chè trở nên khỏe mạnh hơn, ít sâu bệnh, sản lượng của vườn chè tăng bình quân 10% ngay trong năm đầu thực hiện, trong khi chi phí thuốc bảo vệ thực vật và công phun giảm khoảng 50%. Nhờ vậy, sức khỏe của chính những người làm chè cũng dần được cải thiện, môi trường sinh thái được bảo vệ. Đối với các hộ trồng chè, thu nhập đã tăng bình quân từ 40%- 50% so với trước nên bà con đều rất phấn khởi và nghiêm túc thực hiện theo đúng các hướng dẫn và yêu cầu của mô hình đặt ra.

 
Điển hình như: Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh ở xã Phú Lâm- huyện Yên Sơn là đơn vị sản xuất chè sạch nổi bật của tỉnh. Do đây là đơn vị chuyên cung cấp cac sản phẩm chè có chất lượng cao như: Ngọc Thúy, Bát Tiên… nên việc thu hái cũng đòi hỏi sự công phu hơn nhiều. Thay vì hái lá chè bằng máy, hiện nay việc thu hái hoàn toàn được tiến hành bằng phương thức thủ công, sao cho đảm bảo thu hoạch mỗi búp chè 1 tôm, 2 lá; ngoài ra, chè thu hái mang từ vườn về không được dập nát.

 
Anh Nguyễn Công Sử- Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Sử Anh cho biết: Gia đình anh vốn có truyền thống làm nghề chè từ hơn 10 năm nay. Trước đây, sản xuất chè theo kiểu truyền thống, chưa chú ý đến các quy trình sạch nên hiệu quả kinh tế đạt được còn thấp. Từ khi chuyển hướng sang trồng chè đặc sản, lại áp dụng đúng quy trình VietGAP nên giá trị của chè tăng vượt trội hẳn. Hiện giá bán trung bình trên thị trường vào khoảng 550.000 đồng/kg chè khô; với hơn 30 ha vùng nguyên liệu, mỗi năm, Hợp tác xã đang cung ứng 30 tấn chè khô ra thị trường, giá trị lợi nhuận thu về không nhỏ.

 
Anh Lê Quang Chuyền- Giám đốc Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm chia sẻ: Hiện trung bình mỗi năm, công ty của anh sản xuất được 2.000- 2.300 tấn chè, trong đó gần 70% sản lượng đạt chuẩn Rainforest, đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của EU và Nhật Bản. Để duy trì và phát triển kết quả này, công ty đã đẩy mạnh việc thực hiện mô hình liên kết giữa nhà máy với các tổ đội sản xuất. Tại các vùng sản xuất chè, người dân đều được tập huấn về kỹ thuật chăm sóc và thu hái chè theo tiêu chuẩn VietGAP; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng…

 
Chị Đào Thị Thương ở thôn Quyết Thắng, xã Mỹ Bằng- huyện Yên Sơn, một hộ tham gia mô hình liên kết với Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm cho biết: Thực hiện mô hình, bà con nông dân có rất nhiều thuận lợi. Chẳng hạn như: Toàn bộ vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đều được công ty ứng trước cho các hộ; chè được chăm sóc, thu hái đúng kỹ thuật nên sản lượng tăng, ít sâu bệnh; nhờ hạn chế tối đa việc phun thuốc bảo vệ thực vật nên giảm thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường, nâng cao sức khỏe.

 
Bên cạnh đó, nhờ liên kết sản xuất với các hộ dân khác cùng tham gia mô hình nên mỗi tháng, chị Thương chỉ phải làm từ 8- 10 công lao động/ha, giảm được gần nửa số ngày công so với trước đây. Từ đó, chị có thêm thời gian để làm các công việc khác giúp nâng cao nguồn thu nhập cho gia đình… Hiện với 6.000 m2 trồng chè, từ khi tham gia mô hình liên kết sản xuất, sản lượng của gia đình chị đã tăng từ 10,62 tấn lên 12,64 tấn.

 
Ông Nguyễn Văn Việt- Quyền Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh đánh giá: Để khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào phát triển sản xuất, chế biến chè, các địa phương cần thực hiện tốt quy hoạch chi tiết vùng nguyên liệu chè cho từng nhà máy, cơ sở chế biến để quản lý theo quy hoạch, bảo đảm giữ ổn định diện tích chè hiện có. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng trồng chè ngoài quy hoạch, trồng chè trên đất lâm nghiệp. Ngoài ra, cần xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nguyên liệu chè gắn với các nhà máy chế biến để từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đời sống của người lao động.

 
Phát huy những kết quả đạt được, thời gian tới, các cấp lãnh đạo trong tỉnh tiếp tục đẩy mạnh việc liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở chế biến với người trồng chè; áp dụng đồng bộ hệ thống quản lý chất lượng từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm chè. Sản phẩm chè nhờ đảm bảo chất lượng nên giá bán chè khô sẽ cao hơn, thị trường cũng ngày càng được mở rộng hơn. Mô hình liên kết sản xuất mới còn giúp xây dựng được tính cộng đồng, đoàn kết và tác phong công nghiệp cho người nông dân trên địa bàn.


 

Thùy Dung
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Bế giảng lớp thú y K3 tại Trường Trung cấp Nông dân VN

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
36.360
36.520
Vàng nhẫn
35.250
35.650
Vàng nhẫn
35.250
35.750
Tỷ giá
EUR
26935.44
GBP
29847.25
USD
23355

Ý KIẾN THĂM DÒ

Bạn thấy giao diện mới thế nào?
Rất đẹp
Không đep lắm nhưng nội dung phong phú
Cũng bình thường thôi
Rất xấu
BIỂU QUYẾT