Thứ ba, 22/08/2017 (GMT+7)
Giá nông sản
Tình hình tổ chức bộ máy và biên chế Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân các tỉnh, thành phố
10:02 - 04/10/2016
      HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG             Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                        *
        Số  206 - BC/HNDTW                     Hà Nội, ngày  23  tháng 9 năm 2016

 
BÁO CÁO
Tình hình tổ chức bộ máy và biên chế
Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân các tỉnh, thành phố
 

Thực hiện chương trình công tác năm 2016, trên cơ sở tổng hợp báo cáo của Ban Thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố và theo dõi của các Ban, đơn vị Trung ương Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam báo cáo tình hình tổ chức bộ máy và biên chế Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân (viết tắt là TTDN&HTND) các tỉnh, thành phố như sau:

I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Kết luận số 61-KL/TW, ngày 03/12/2009 về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn giai đoạn 2011 - 2020. Đến nay, được sự quan tâm của Chính phủ, sự chủ động tích cực của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, sự quan tâm của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đã có nhiều Trung tâm Dạy nghề và hỗ trợ nông dân của các tỉnh, thành phố được thành lập. Cụ thể:

Đã có 56/63 tỉnh, thành phố thành lập TTDN&HTND trực thuộc Hội Nông dân các tỉnh, thành phố. 7 tỉnh, thành phố chưa thành lập TTDN&HTND gồm: Quảng Ninh, Đồng Nai, Đà Nẵng, Gia Lai, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ.

Khi thành lập, 20/56 TTDN&HTND đã được bố trí trụ sở làm việc riêng nhưng đều là trụ sở cũ, xuống cấp, chưa có trang thiết bị. Từ khi có Quyết định số 673/QĐ- TTg, ngày 10/5/2011 của Chính phủ, đến tháng 6 năm 2016, đã có 50/56 TTDN&HTND các tỉnh, thành phố được phê duyệt cấp vốn đầu tư xây mới hoặc nâng cấp, bổ sung trang thiết bị (trong đó 30 TTDN&HTND được cấp vốn xây mới; 20 TTDN&HTND được cấp vốn nâng cấp, bổ sung trang thiết bị). Hiện nay, đã có 12 TTDN&HTND hoàn thành việc xây mới hoặc nâng cấp và bàn giao đưa vào sử dụng (04 Trung tâm xây mới là Bình Thuận, Nam Định, Bình Phước, Thái Nguyên; 08 Trung tâm nâng cấp, bổ sung trang thiết bị là Quảng Bình, Hà Nam, Lâm Đồng, Hải Dương, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Lai Châu, Điện Biên).

II. VỊ TRÍ PHÁP LÝ CỦA TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ HỖ TRỢ NÔNG DÂN
Vị trí pháp lý của TTDN&HTND các tỉnh, thành phố được căn cứ trên cơ sở các quyết định thành lập Trung tâm của cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể như sau:

1. Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ra quyết định thành lập: Có 10 Trung tâm.
Giai đoạn từ năm 2000 - 2006, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ra quyết định thành lập 10 TTDN&HTND các tỉnh: Hà Nam, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Nội, Đắk Lắk, Lai Châu, Thừa Thiên Huế, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Trị.
Căn cứ Thông tư 24/2011/TT-BLĐTBXH, ngày 21/9/2011 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định về thành lập, cho phép thành lập, chia, tách, sáp nhập, giải thể trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã thống nhất với Ban Thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố và có công văn đề nghị tỉnh, thành ủy, UBND các tỉnh, thành phố tiếp nhận và ra quyết định thành lập. Đến nay, 07 TTDN&HTND các tỉnh Lai Châu, Thừa Thiên Huế, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Hà Nam, Đắk Lắk, Tuyên Quang đã có quyết định tiếp nhận và thành lập của UBND tỉnh hoặc tỉnh ủy; 03 TTDN&HTND của các tỉnh Cao Bằng, Quảng Trị[U1]  và thành phố Hà Nội hiện nay vẫn chưa được UBND hoặc tỉnh, thành ủy ra quyết định tiếp nhận.

2. UBND cấp tỉnh, thành phố ra quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập: Có 44 Trung tâm.
2.1. UBND các tỉnh, thành phố đã có quyết định thành lập 41 TTDN&HTND các tỉnh: Sơn La, Hòa Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Long An, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Nam Định, Kiên Giang, Thái Bình, Quảng Bình, Bình Thuận, Yên Bái, Trà Vinh, Sóc Trăng, Lạng Sơn, Bình Phước, TP.Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Hà Giang, Vĩnh Long, Điện Biên, Lào Cai, Bình Định, Phú Yên, Lâm Đồng, Thái Nguyên, Quảng Nam, Bắc Giang, Kon Tum, Bạc Liêu, Phú Thọ, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Giang, An Giang, Cà Mau, Hậu Giang, Vĩnh Phúc, Tây Ninh, Bình Dương, Đắk Nông.  
Một số TTDN&HTND do UNBD tỉnh, thành phố ra quyết định thành lập đã thể hiện rõ vị trí pháp lý. Trong quyết định đã nêu về tổ chức bộ máy và biên chế hoặc cùng với quyết định thành lập, UBND tỉnh, thành phố đã phê duyệt Đề án tổ chức bộ máy và biên chế của các trung tâm. Hàng năm UBND tỉnh, thành phố hoặc Sở Nội vụ có quyết định, thông báo giao chỉ tiêu biên chế và kinh phí hoạt động, điển hình như:
- TTDN&HTND Hải Phòng do UBND thành phố Hải Phòng ra quyết định thành lập, cấp kinh phí hoạt động hàng năm và Sở Nội vụ thành phố giao chỉ tiêu biên chế.
- TTDN&HTND Long An được UBND tỉnh ra quyết định thành lập và phê duyệt số lượng biên chế viên chức.
- TTDN&HTND Sóc Trăng được UBND tỉnh ra quyết định thành lập năm 2011 và bố trí chỉ tiêu biên chế trong tổng số biên chế sự nghiệp giáo dục của tỉnh.
2.2. Một số Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân do UBND tỉnh, thành phố ra quyết định cho phép thành lập hoặc đổi tên:
- UBND tỉnh Khánh Hòa và Tiền Giang ra Quyết định cho phép thành lập TTDN&HTND trực thuộc Hội Nông dân tỉnh.
- UBND tỉnh Nghệ An ra Quyết định về việc đổi tên Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và dịch vụ việc làm trực thuộc Hội Nông dân tỉnh thành TTDN&HTND tỉnh Nghệ An.

3. Tỉnh ủy ra quyết định thành lập: Có 02 Trung tâm. 
TTDN&HTND các tỉnh Hải Dương, Ninh Bình do Tỉnh ủy ra quyết định thành lập (Theo báo cáo của Hội Nông dân tỉnh Ninh Bình: Năm 1994 UBND tỉnh Ninh Bình ra quyết định thành lập Trung tâm Hỗ trợ nông dân; năm 2008 Ban Tổ chức Tỉnh ủy thông báo đổi tên thành TTDN&HTND; năm 2015 Tỉnh ủy quyết định thành lập TTDN&HTND là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Hội Nông dân tỉnh).

III. TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ BIÊN CHẾ
1. Tổ chức bộ máy
Về cơ bản, tổ chức bộ máy của TTDN&HTND các tỉnh, thành phố được thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm dạy nghề (ban hành kèm theo Quyết định số 776/2001/QĐ-BLĐTBXH ngày 29/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), gồm lãnh đạo Trung tâm (Giám đốc, Phó Giám đốc) và các phòng chuyên môn. Cụ thể:

* 34 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân các tỉnh, thành phố có cơ cấu tổ chức bộ máy tương đối hoàn chỉnh theo quy định: TTDN&HTND thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Long An, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tiền Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Vĩnh Long, Kon Tum, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Ninh Bình.
- Một số Trung tâm có cơ cấu tổ chức bộ máy hoàn chỉnh và ổn định ngay từ khi bắt đầu thành lập cho đến nay, điển hình như:
+ TTDN&HTND tỉnh Hải Dương có: Giám đốc, Phó Giám đốc và 4 phòng chức năng: Phòng tổ chức - hành chính, Phòng hỗ trợ nông dân, Phòng đào tạo, Phòng giới thiệu việc làm.
+ TTDN&HTND tỉnh Hà Tĩnh có: Giám đốc, Phó Giám đốc và 04 phòng chức năng: Phòng đào tạo nghề và các tổ chuyên môn thuộc phòng, Phòng tổ chức - hành chính, Phòng giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động, Phòng dịch vụ hỗ trợ nông dân.
+ TTDN&HTND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Ban Giám đốc 03 người và 3 phòng chức năng: Phòng tổ chức hành chính, Phòng đào tạo, Phòng hoạt động dịch vụ và hỗ trợ nông dân.
+ TTDN&HTND tỉnh Vĩnh Phúc có: Giám đốc, Phó Giám đốc và 02 phòng chức năng: Phòng tổ chức hành chính, Phòng giáo vụ đào tạo và quản lý học sinh.
+ TTDN&HTND thành phố Hồ Chí Minh có: Giám đốc, Phó Giám đốc và 03 phòng chức năng: Phòng hành chính tổng hợp, Phòng dạy nghề và hỗ trợ giới thiệu việc làm, Phòng hỗ trợ sản xuất và xúc tiến thương mại.
+ TTDN&HTND tỉnh Bình Phước có: Giám đốc, Phó Giám đốc và 04 phòng chức năng: Phòng tổ chức hành chính, Phòng đào tạo, Phòng nghiệp vụ, Phòng kế toán.
- Một số Trung tâm đã có cơ cấu tổ chức bộ máy, các phòng chức năng nhưng phần lớn cán bộ lãnh đạo, cán bộ phụ trách Trung tâm (Giám đốc, Phó Giám đốc, cán bộ tuyển sinh, đào tạo, kế toán…) do cán bộ, chuyên viên các ban, đơn vị Hội Nông dân tỉnh, thành phố kiêm nhiệm; các phòng chức năng của Trung tâm chưa đủ trưởng, phó phòng và viên chức là biên chế của Trung tâm. Cụ thể như Trung tâm các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tiền Giang.

* Tuy vậy, 22 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân các tỉnh, thành phố chưa có cơ cấu tổ chức bộ máy hoàn chỉnh. Hầu hết các TTDN&HTND này chưa có các phòng chức năng, chỉ có bộ máy lãnh đạo gồm Giám đốc, Phó Giám đốc, kế toán, thủ quỹ, cán bộ khuyến nông, cán bộ phụ trách dạy nghề, đào tạo... do cơ quan Hội Nông dân tỉnh, thành phố cử cán bộ kiêm nhiệm để duy trì các hoạt động của đơn vị. Cụ thể: TTDN&HTND thành phố Hà Nội, Kiên Giang, Thái Bình, Bắc Kạn, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Điện Biên, Nam Định, Hòa Bình, Sơn La, Ninh Thuận, Trà Vinh, Hưng Yên, Yên Bái, Bình Thuận, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Dương, Bạc Liêu, Hậu Giang, An Giang, Cà Mau.

2. Biên chế
2.1. 46/56 tỉnh, thành phố đã bố trí tổng số 236 biên chế và 50 cán bộ Hội Nông dân tỉnh, thành phố kiêm nhiệm cho các TTDN&HTND. Cụ thể như sau:
* 19 TTDN&HTND được UBND tỉnh, thành phố giao biên chế sự nghiệp thuộc khối chính quyền: Hà Giang 06 biên chế, Lai Châu 13 biên chế, Bắc Giang 06 biên chế, Hà Tĩnh 11 biên chế, Bắc Ninh 15 biên chế, Quảng Nam 05 biên chế, Lâm Đồng 04 biên chế, Bà Rịa - Vũng Tàu 12 biên chế, Long An 17 biên chế, Sóc Trăng 06 biên chế, Trà Vinh 05 biên chế, Hải Phòng 06 biên chế, An Giang 07 biên chế, Hậu Giang 16 biên chế, Vĩnh Long 17 biên chế, Kon Tum 02 biên chế, Quảng Ngãi 03 biên chế, Nghệ An 06 biên chế, Bình Phước 10 biên chế.
Một số Trung tâm đã được UBND tỉnh, thành phố giao biên chế với số lượng cụ thể, ổn định đảm bảo cho tổ chức bộ máy và hoạt động. Điển hình như: TTDN&HTND Hà Tĩnh được UBND tỉnh giao 11 biên chế viên chức và 08 cán bộ hợp đồng dài hạn; TTDN&HTND Bà Rịa - Vũng Tàu được UBND tỉnh giao 10 biên chế viên chức và 02 hợp đồng dài hạn; TTDN&HTND Lai Châu được giao 13 biên chế sự nghiệp, hiện nay đang có 12 người, trong đó có 9 biên chế viên chức, 03 hợp đồng; TTDN&HTND Long An được giao 17 biên chế viên chức, hiện tại có 11 người; TTDN&HTND Sóc Trăng được UBND tỉnh phân bổ biên chế hàng năm nằm trong tổng số biên chế sự nghiệp giáo dục, năm 2015, 2016 được phân bổ 06 biên chế; TTDN&HTND Bắc Ninh được phê duyệt Đề án tổ chức, bộ máy của Trung tâm với 17 biên chế, năm 2016 được giao 15 biên chế, hiện nay có 14 người, trong đó: 1 công chức, 5 viên chức, 2 hợp đồng theo nghị định 68, 6 hợp đồng chuyên môn; Trung tâm đã xác định được số người làm việc theo vị trí việc làm (02 cán bộ lãnh đạo quản lý; 09 cán bộ hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, nghề nghiệp; 03 cán bộ hỗ trợ, phục vụ).
Tuy nhiên, có một số đơn vị được giao với số lượng biên chế lớn nhưng hiện nay chưa được thực hiện để đảm bảo cho trung tâm hoạt động như: TTDN&HTND Lào Cai đã được Tỉnh ủy phê duyệt Đề án về tổ chức bộ máy và biên chế với tổng số 16 biên chế, hiện nay chỉ có 4 người (trong đó 01 cán bộ kiêm nhiệm của Hội Nông dân tỉnh); TTDN&HTND Hà Giang được UBND tỉnh phê duyệt Đề án tổ chức bộ máy và biên chế với số lượng 15 biên chế, hiện nay có 11 người, trong đó có 6 viên chức thuộc biên chế sự nghiệp của UBND tỉnh và 5 cán bộ của Hội Nông dân tỉnh kiêm nhiệm; TTDN&HTND Bình Phước được UBND tỉnh tạm giao 10 biên chế viên chức nhưng chưa được tuyển dụng, hiện nay số cán bộ của Trung tâm là 14 người trong đó có 2 biên chế của Hội Nông dân tỉnh, hợp đồng dài hạn 9 người, hợp đồng thời vụ 3 người.

* 24 TTDN&HTND được tỉnh, thành ủy giao biên chế nằm trong biên chế khối đảng, đoàn thể: TTDN&HTND thành phố Hà Nội 03 biên chế, thành phố Hồ Chí Minh 12 biên chế, các tỉnh: Ninh Bình 06 biên chế, Tuyên Quang 12 biên chế, Sơn La 03 biên chế, Hòa Bình 03 biên chế, Cao Bằng 08 biên chế, Thái Nguyên 03 biên chế, Vĩnh Phúc 05 biên chế, Hải Dương 09 biên chế, Thanh Hóa 04 biên chế, Quảng Bình 06 biên chế, Thừa Thiên Huế 03 biên chế, Quảng Trị 09 biên chế, Bình Định 04 biên chế, Đắk Lắk 03 biên chế, Bạc Liêu 04 biên chế, Lạng Sơn 03 biên chế, Điện Biên 06 biên chế, Lào Cai 04 biên chế, Khánh Hòa 05 biên chế,  Hà Nam 02 biên chế, Bình Dương 04 biên chế, Bắc Kạn 04 biên chế.
Biên chế khối đảng, đoàn thể hầu hết do tỉnh, thành ủy tuyển dụng và phân công về các Trung tâm, nhưng hiện nay việc giao số lượng biên chế cho các Trung tâm còn ít, chủ yếu là biên chế chuyên môn, nghiệp vụ, còn biên chế lãnh đạo (Giám đốc, Phó giám đốc) do Hội Nông dân tỉnh, thành phố cử cán bộ Hội Nông dân tỉnh, thành phố kiêm nhiệm. Ngoài ra, một số Trung tâm phải ký thêm hợp đồng công việc chuyên môn để duy trì hoạt động, đảm bảo thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình.

* 03 TTDN&HTND được UBND tỉnh và tỉnh, thành ủy giao biên chế thuộc khối chính quyền và biên chế thuộc khối đảng, đoàn thể: TTDN&HTND tỉnh Ninh Thuận có 06 biên chế thuộc khối chính quyền, 01 biên chế thuộc khối đảng, đoàn thể; TTDN&HTND tỉnh Bình Thuận có 06 biên chế thuộc khối chính quyền và 01 biên chế thuộc khối đảng, đoàn thể; TTDN&HTND tỉnh Phú Thọ có 05 biên chế thuộc khối chính quyền, 04 biên chế thuộc khối đảng, đoàn thể.
2.2. 10 TTDN&HTND tỉnh chưa được giao biên chế: Yên Bái, Nam Định, Phú Yên, Thái Bình, Hưng Yên, Kiên Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Tây Ninh, Đắk Nông. Hiện nay Hội Nông dân các tỉnh này đang phải bố trí cán bộ kiêm nhiệm các nhiệm vụ quản lý và công tác chuyên môn của các Trung tâm.

IV. ĐÁNH GIÁ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
1. Thuận lợi:
- Việc thành lập TTDN&HTND là chủ trương đúng đắn của Đảng, được Chính phủ và các bộ, ngành cụ thể hóa bằng các chính sách và bố trí nguồn lực đầu tư xây dựng TTDN&HTND các tỉnh, thành phố.
- Nhiều TTDN&HTND các tỉnh, thành phố được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đã và đang phát huy tốt chức năng dạy nghề và hỗ trợ nông dân; góp phần trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân và xây dựng nông thôn mới.
- Hầu hết các TTDN&HTND khi được UBND tỉnh hoặc tỉnh, thành ủy ra quyết định thành lập đã được quan tâm giao chỉ tiêu biên chế, xây dựng tổ chức bộ máy, đảm bảo duy trì hoạt động hiệu quả.  
 
2. Một số khó khăn
- Sự quan tâm của cấp ủy , chính quyền các cấp ở một số tỉnh, thành phố còn mức độ, do vậy, tổ chức bộ máy và biên chế của không ít trung tâm chưa ổn định:
+ Một số đơn vị chưa chuyển TTDN&HTND các tỉnh, thành phố sang đơn vị sự nghiệp; chưa xác định được số lượng viên chức theo Quyết định 282-QĐ/TW, ngày 1/4/2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện đã hạn chế sự chủ động thực hiện nhiệm vụ của trung tâm.
+ Một số đơn vị đã được giao biên chế nhưng chưa được thực hiện đầy đủ để duy trì, đảm bảo hoạt động, Hội Nông dân tỉnh, thành phố phải phân công cán bộ kiêm nhiệm.
+ Còn 3 TTDN&HTND chưa được tiếp nhận, chưa được chuyển đổi sang đơn vị sự nghiệp hoặc chưa xác định rõ vị trí pháp lý nên cơ chế không rõ ràng dẫn đến việc thực hiện chế độ chính sách cho cán bộ, viên chức còn nhiều bất cập.
- Bộ máy, biên chế và điều kiện hoạt động của một số trung tâm khó khăn:
 + Hầu hết các trung tâm không đủ biên chế để bố trí giáo viên cơ hữu trực tiếp tham gia giảng dạy nên phải đi thuê, hoặc hợp đồng giáo viên hoặc phối hợp với các đơn vị khác đào tạo, do vậy, không chủ động, đôi khi làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác đào tạo, dạy nghề cho nông dân.
+ Một số tỉnh, thành phố chưa quan tâm bố trí được mặt bằng xây dựng TTDN&HTND nên hiện nay chưa có trụ sở riêng hoặc được bố trí mặt bằng nhưng chưa phù hợp về vị trí địa lý; cơ sở vật chất đầu tư chưa đồng bộ; kinh phí hoạt động của một số Trung tâm còn khó khăn, những hạn chế này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tổ chức bộ máy và cán bộ trung tâm trong thực hiện chức năng dạy nghề và hỗ trợ nông dân.

V. MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
- Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam, Ban Thường vụ Trung ương Hội báo cáo Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ xin chủ trương; làm việc với Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội Vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và một số cơ quan liên quan để bàn bạc, thống nhất ban hành các văn bản quy định cụ thể về tổ chức bộ máy và biên chế của các TTDN&HTND các tỉnh, thành phố.
- Hướng dẫn xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế của các TTDN&HTND các tỉnh, thành phố và các cơ sở có chức năng dạy nghề của Trung ương Hội theo hướng là đơn vị sự nghiệp và có năng lực thực hiện hiệu quả các hoạt động tư vấn, dạy nghề, dịch vụ, hỗ trợ nông dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đáp ứng về số lượng, đảm bảo chất lượng và cơ cấu theo ngành nghề.
- Tiếp tục đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp và mua sắm trang thiết bị phục vụ dạy nghề cho TTDN&HTND các tỉnh, thành phố theo Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

2. Hội Nông dân các tỉnh, thành phố
- Tích cực phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh tham mưu cho Ban Thường vụ tỉnh ủy thực hiện việc chuyển đổi TTDN&HTND sang đơn vị sự nghiệp, xác định rõ số lượng viên chức của Trung tâm  theo  Điều 9, Quy định 282-QĐ/TW, ngày 1/4/2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI).
- Đối với những tỉnh, thành phố chưa có TTDN&HTND cần nghiên cứu những vấn đề liên quan, báo cáo xin chủ trương của Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy và UBND tỉnh, thành phố về việc thành lập TTDN&HTND. Nếu được đồng ý, cần khẩn trương xây dựng Đề án thành lập Trung tâm theo hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội.
- Đối với TTDN&HTND các tỉnh, thành phố chưa có tổ chức bộ máy, chưa được giao biên chế cần tập trung xây dựng Đề án về tổ chức bộ máy và biên chế để trình UBND tỉnh, thành phố phê duyệt.

VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
- Đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm cấp kinh phí xây dựng cơ sở vật chất cho các Trung tâm, nhất là các trung tâm mới cần được đầu tư đồng bộ.
- Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan tạo điều kiện trong công tác phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam để thống nhất về tổ chức bộ máy, biên chế sự nghiệp của TTDN&HTND các tỉnh, thành phố.
- Đề nghị các tỉnh, thành ủy, UBND các tỉnh, thành phố quan tâm phê duyệt tổ chức bộ máy, biên chế, kinh phí và chế độ chính sách cho cán bộ, viên chức của các Trung tâm.
 
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Ban Tổ chức Trung ương Đảng;
- Thường trực Trung ương Hội;
- Hội Nông dân các tỉnh, thành phố;
- Các ban, đơn vị Trung ương Hội;
- Lưu Ban Tổ chức, VP TW Hội.
       T/M BAN THƯỜNG VỤ
PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC
 
                   (Đã ký)
 
 
             Lều Vũ Điều
 

 [U1]Chờ trả lời từ HND Quảng Trị
 

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Số 28- HTX Sinh Dược (x. Gia Sinh, h. Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình)

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
36.250
36.450
Vàng nhẫn
35.060
35.460
Tỷ giá
EUR
26957.92
GBP
29385.73
USD
22760

Ý KIẾN THĂM DÒ

Bạn thấy giao diện mới thế nào?
Rất đẹp
Không đep lắm nhưng nội dung phong phú
Cũng bình thường thôi
Rất xấu
BIỂU QUYẾT