Thứ sáu, 07/10/2022 (GMT+7)
Giá nông sản
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp triển khai BHNN cho nông dân
Bài 3: Đề xuất giải pháp, chính sách thúc đẩy triển khai BHNN cho nông dân
16:20 - 26/04/2022
(Cổng ĐT HND) – Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, BHNN là một công cụ khá hiệu quả, là lá chắn cho nông nghiệp, nhằm giảm thiểu những rủi ro trong sản xuất, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Triển khai BHNN là cần thiết, một mặt tạo ra khuôn khổ pháp lý hỗ trợ đối với nông dân khi có thiệt hại, mặt khác tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm đa dạng hóa các sản phẩm và hoạt động của doanh nghiệp, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.

Nên có bảo hiểm cho các hộ nuôi thuỷ sản với qui mô lớn; hoặc các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao; hoặc nghiên cứu vấn đề bảo hiểm cho những tàu đánh bắt xa bờ vì nguồn đầu tư của nông dân rất lớn

 
Cổng Thông tin điện tử Hội Nông dân Việt Nam xin giới thiệu loạt bài trên cơ sở kết quả “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp triển khai BHNN cho nông dân” của đồng chí Nguyễn Khắc Toàn - Ủy viên Ban Thường vụ, Chánh Văn phòng Trung ương Hội để các đồng chí tham khảo.

 
Bài 3: Đề xuất giải pháp, chính sách thúc đẩy triển khai BHNN cho nông dân (tiếp theo và hết)

Đề xuất mô hình BHNN ở Việt Nam: Thực hiện mô hình BHNN ở Việt Nam kết hợp cả phương pháp truyền thống và bảo hiểm theo chỉ số (tập trung vào chỉ số thời tiết, chỉ số năng suất và chỉ số viễn thám), để hạn chế nhược điểm và phát huy ưu điểm của cả hai loại hình này, lựa chọn tùy thuộc vào loại cây trồng, vật nuôi ở Việt Nam nói chung và từng tiểu vùng nói riêng, sao cho đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích của người nông dân, doanh nghiệp bảo hiểm và nhà nước.
 

(1) Bảo hiểm theo phương pháp tiếp cận truyền thống là bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường. Nét đặc trưng cơ bản nhất là lấy thiệt hại, tổn thất của từng cá nhân hoặc từng tổ chức làm căn cứ để xét bồi thường. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành giám định để xác định mức độ thiệt hại và tiến hành bồi thường trên cơ sở và trong phạm vi tổn thất.


(2) Bảo hiểm theo phương pháp tiếp cận mới là bảo hiểm theo chỉ số (mới chỉ xuất hiện trong những năm gần đây) nhằm khắc phục các nhược điểm của bảo hiểm truyền thống. Nét đặc trưng cơ bản nhất của bảo hiểm theo chỉ số là lấy các chỉ số khách quan (đối với cây trồng, đó là chỉ số thời tiết, năng suất) và mức bồi thường tương ứng với mỗi chỉ số (quy định trong hợp đồng bảo hiểm) làm căn cứ xét bồi thường (không cần tiến hành giám định để xác định mức độ thiệt hại như ở bảo hiểm truyền thống). Để bảo đảm bồi thường hợp lý, mức độ bồi thường được tính trên cơ sở năng suất bình quân nhiều năm chung của cả vùng hay tiểu vùng sinh thái.

 
Phương pháp bảo hiểm theo chỉ số rất nhiều ưu điểm. Rủi ro đạo đức là khá thấp vì căn cứ để xét bồi thường là chỉ số khách quan không phụ thuộc vào ý muốn và hành vi chủ quan của con người. Khả năng lựa chọn rủi ro để bảo hiểm cũng bị hạn chế vì rủi ro được bảo hiểm là thời tiết (lũ lụt, hạn hán...) tác động đến tất cả mọi người trong vùng chứ không chỉ riêng ai. Chi phí quản lý thấp (không cần phải khai thác bảo hiểm theo yêu cầu riêng của từng người, không cần giám định tổn thất). Dễ hiểu, dễ xác định mức bồi thường, khách quan, không chịu tác động của quyền lực cá nhân.

 
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, các sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số đang ở trong quá trình phát triển hoàn thiện và được sử dụng theo những cách khác nhau. Việc áp dụng mô hình bảo hiểm này vào thực tiễn Việt Nam cũng cần có những sáng tạo phù hợp. Đặc biệt là chú ý thực hiện giải pháp “Đồng bảo hiểm” và “Tái bảo hiểm” để chia sẻ rủi ro giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, trong điều kiện thị trường BHNN ở Việt Nam chưa hình thành ổn định và hoạt động chuyên nghiệp.

 
1. Nhóm các giải pháp về tuyên truyền, vận động

Mặc dù nông dân tại các tỉnh khảo sát đã bắt đầu nhận thức được sự cần thiết của BHNN, tuy nhiên trong thời gian tới, để tăng tỷ lệ số hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tham gia BHNN cần phải tăng cường sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là Hội Nông dân các cấp trong việc tuyên truyền chính sách BHNN.

 
Về đối tượng tuyên truyền: Trước mắt cần tập trung cho cán bộ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, đặc biệt là cán bộ quản lý cấp vụ và cán bộ tham mưu chuyên môn, nghiệp vụ; cán bộ Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở; hội viên nông dân, đặc biệt là những hội viên nông dân đang sản xuất tập trung, có quy mô, sản lượng cây trồng, vật nuôi, thủy sản ở quy mô vừa và lớn.

 
Về hình thức tuyên truyền: Các hội nghị tập huấn, từ tập huấn Giảng viên nguồn (TOT) đến giảng viên cơ sở; hội thảo, tọa đàm, các diễn đàn; các hội thi, hội diễn, sân khấu hóa được lồng ghép giới thiệu nội dung về BHNN; Trang thông tin điện tử, Website của Trung ương Hội và Hội Nông dân các cấp, các tài liệu bản tin, báo chí…

 
Về kinh phí, nguồn lực cho công tác tuyên truyền: Kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho triển khai công tác Hội và phong trào nông dân (xác định BHNN là một nhiệm vụ của các cấp Hội); kinh phí từ các chương trình, dự án chuyên đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn (trong đó đề cập tới BHNN cho nông dân); từ Hiệp hội bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm khi triển khai các chương trình phối hợp; nguồn lực từ các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho lĩnh vực BHNN hoặc các lĩnh vực khác có liên quan đến BHNN.

 
2. Nhóm các giải pháp về tham mưu hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước

Các đề xuất về hoàn thiện luật pháp và chính sách về BHNN: Nhìn từ thực tiễn suốt 40 năm qua, sau 4 thời điểm thực hiện thí điểm BHNN ở Việt Nam, có thể thấy các chủ trương của Đảng, cơ chế, chính sách của nhà nước về BHNN cho nông dân và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam là chưa hoàn thiện, hoàn chỉnh. Vì vậy, cần thiết phải có chủ trương chỉ đạo các cơ quan chuyên môn khẩn trương có các nghiên cứu, đề xuất về hoàn thiện luật pháp và chính sách về BHN trên cơ sở tham khảo bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

 
Các đề xuất về hoàn thiện khung pháp lý đối với thị trường BHNN: Một là, trước mắt cần có Pháp lệnh về BHNN thay thế cho Nghị định số 58/NĐ-Chính phủ (chỉ có thời gian ngắn và tính hiệu lực thấp hơn pháp lệnh), để đảm bảo các tổ chức, cá nhân liên quan đều có ý thức chấp hành, tham gia BHNN một cách nghiêm túc, tích cực hơn. Hai là, ban hành các Quy định, hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương để triển khai BHNN một cách đồng bộ. Đảm bảo thời gian triển khai, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chính sách, tránh tình trạng ban hành chính sách, chưa kịp triển khai hết ở các địa phương thì chính sách đã hết hiệu lực như Quyết định 22/QĐ-TTg. Ba là, bổ sung, hoàn thiện các quy định về BHNN trong Luật Kinh doanh bảo hiểm, hoặc về lâu dài tách thành một Luật riêng để điều chỉnh đối tượng, phạm vi và những vấn đề liên quan, vì đây là một lĩnh vực rất đặc thù có liên quan cả đến chính trị, kinh tế, xã hội ở nông thôn, nhất là người nông dân - Chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

 
Các đề xuất về chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp theo các chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp hàng hóa: CNH- HĐH nông nghiệp và nông thôn là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng của tiến trình đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước. Theo đó Đảng và nhà nước đã có chủ chủ trương, cơ chế chính sách để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Tuy nhiên trong hơn 10 năm qua, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế (cả nước mới có khoảng 12.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm hơn 10%), do vậy nông nghiệp, nông thôn vẫn còn rất hạn chế về cơ hội và điều kiện phát triển.

 
Chủ trương xây dựng mối liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp đã được đặt ra từ 25 năm trước, Hội Nông dân Việt Nam từ Trung ương đến địa phương là một trong những cơ quan, tổ chức đã rất tích cực, chủ động trong việc xây dựng mối liên kết này, nhất là mối quan hệ hai bên giữa nông dân với doanh nghiệp. Thông qua thế mạnh của doanh nghiệp: (1) Có nguồn tài chính đầu tư cho sản xuất, (2) có khả năng quản trị, (3) có dây chuyền sản xuất, ứng dụng KHKT, (4) có thị trường, (5) có thương hiệu… nông dân sẽ có thuận lợi trong quá trình tổ chức sản xuất, yên tâm cho đầu ra của nông sản. Từng bước hình thành chuỗi giá trị và đảm bảo các yêu cầu ngày càng cao đối với nông sản tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

 
Vì vậy để thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, cần có nhiều ưu đãi, khuyến khích thông qua: (1) chính sách tín dụng (cho vay vốn đầu tư, giảm lãi xuất…); (2) chính sách thuế (miễn, giảm, giãn thời gian nộp thuế); (3) chính sách đất đai (tạo điều kiện cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch…); (4) chính sách phát triển thị trường; (5) chính sách KH&CN...

 
Các đề xuất về chính sách hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước để thực hiện chủ trương thực hiện BHNN: Bài học kinh nghiệm của các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới là phải có sự hỗ trợ của nhà nước về BHNN để không chỉ chăm lo, hỗ trợ, giúp đỡ nông dân, mà còn là giải pháp bảo vệ nền nông nghiệp phát triển một cách bền vững. Do vậy, Việt Nam cũng cần có lộ trình tính toán việc hỗ trợ nguồn ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này một cách phù hợp (theo hướng tăng dần trong 10 năm sắp tới), nhất là trong điều kiện nông dân đã và đang trở thành đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, là người ít được thụ hưởng nhất những thành quả của hơn 35 năm đổi mới.

 

3. Nhóm giải pháp tài chính (nguồn đóng góp phí bảo hiểm)
Thứ nhất, từ nguồn hỗ trợ của nhà nước theo các chính sách cụ thể: BHNN là lĩnh vực quan trọng, phạm vi rộng cả về quy mô tài chính, quy mô sản xuất và tác động tới đông đảo nông dân cũng như những doanh nghiệp tham gia đầu tư vào nông nghiệp. Do vậy nhà nước cần xem xét hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp bằng các chính sách cụ thể sau:

 
- Chính sách về “Đối tượng bảo hiểm” được hỗ trợ phí BHNN: Đối với cây trồng (không chỉ dừng lại bảo hiểm cho cây lúa mà cần bảo hiểm cho các loại cây trồng chủ lực, có quy mô diện tích và sản lượng lớn, nhất là các loại nông sản phục vụ xuất khẩu; đối với vật nuôi (ngoài trâu và bò, cần bảo hiểm cho hơn 8 triệu hộ nuôi lợn với tổng đàn gần 30 triệu con hay bảo hiểm gia cầm với quy mô rất lớn, trên 500 triệu con); đối với nuôi trồng thủy sản (ngoài bảo hiểm cho tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cần bảo hiểm cho các hộ nuôi thuỷ sản có qui mô lớn hoặc loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao khác hoặc nghiên cứu bảo hiểm cho tàu đánh bắt xa bờ vì đầu tư rất lớn…).

 
- Chính sách về mức hỗ trợ phí BHNN: Đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp (ngoài thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2021-2025; cần quan tâm hỗ trợ thêm cho các đối tượng còn lại. Riêng chính sách hỗ trợ phí đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp (mức 20%) có thể tạm thời chưa cần điều chỉnh, để ưu tiên cho hỗ trợ đối với cá nhân trước.

 
- Quy định về rủi ro được bảo hiểm: Hiện nay phạm vi rủi ro được nhà nước hỗ trợ phí bảo hiểm còn hẹp. Do đó, cần được xem xét theo hướng từng bước mở rộng để dần dần bao phủ các loại rủi ro tùy theo các loại cây trồng vật nuôi, đó là: Rủi ro về thiên tai; về dịch bệnh; về môi trường; về thị trường (đây là loại rủi ro gây tác động nhiều nhất và bất ngờ nhất đối với sản xuất của nông dân trong nhiều năm qua).
 

- Về địa bàn được hỗ trợ phí BHNN: Ngoài 19 tỉnh, thành phố hiện nay, cần mở rộng địa bàn ở nhiều tỉnh khác có sản xuất nông nghiệp qui mô hàng hóa, để thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm hình thành sản phẩm phù hợp với thị trường, đảm bảo điều kiện triển khai các sản phẩm bảo hiểm và đánh giá thiệt hại, đền bù rủi ro khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra (cần chú ý các tỉnh có quy mô sản xuất nông nghiệp lớn như: Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Lâm Đồng, Gia Lai, Long An, Tiền Giang…).

 
- Về thời gian thực hiện hỗ trợ phí BHNN: Cần thực hiện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 thì kết thúc các chính sách hỗ trợ BHNN khi thị trường bảo hiểm đã hoàn thiện và vận hành theo thể chế, pháp luật và quy luật kinh tế thị trường.

 
- Về nguồn ngân sách hỗ trợ BHNN: Đây là chính sách vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, bảo vệ, bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp của người nông dân. Do đó, nên dùng nguồn từ ngân sách Trung ương điều tiết cho ngân sách các địa phương để thực hiện hỗ trợ phí BHNN, tránh hiện tượng Trung ương qui định, nhưng địa phương không có nguồn nên không triển khai quyết liệt dẫn tới không đạt kết quả như giai đoạn vừa qua...

 
Thứ hai, từ các dự án vay vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân: Tính đến 31/12/2021, tổng nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân (Quỹ HTND) toàn hệ thống Hội đạt 3.746,746 tỷ đồng, trong đó riêng cấp Trung ương quản lý trên 700 tỷ đồng. Nguồn vốn Quỹ HTND các cấp từ năm 2008 đến nay đã xây dựng được hàng trăm nghìn mô hình sản xuất, kinh doanh với trên 671.000 lượt hộ nông dân tham gia. Nhiều dự án vay vốn Quỹ HTND Trung ương với quy mô lớn, mức vay cao, hiệu quả, trở thành những mô hình tiêu biểu điển hình thành công, nhân rộng. Hàng năm, có khoảng 250.000 hộ nông dân được vay nguồn vốn Quỹ HTND. Nếu có chủ trương, các dự án vay vốn này hoàn toàn có thể trích phần nhỏ vốn vay để đóng phí BHNN (một phần hay tất cả khoản phí) ngay từ khi giải ngân vay vốn. Giải pháp này không chỉ đảm bảo cho nông dân không bị trắng tay nếu mùa vụ sản xuất gặp rủi ro, mà đồng thời đảm bảo an toàn nguồn vốn, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi của Quỹ HTND tại một số địa phương.

 
Thứ ba, từ nguồn vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn và các tổ chức tín dụng khác: Trong những năm qua, các cấp Hội Nông dân đã tăng cường phối hợp với hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội đẩy mạnh tuyên truyền các chính sách ưu đãi tín dụng của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; củng cố, nâng cao chất lượng của các Tổ tiết kiệm & vay vốn, để giúp nông dân vay vốn thuận lợi. Chủ động phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn thực hiện tốt thỏa thuận đã ký kết. Phối hợp với các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn, triển khai các giải pháp mở rộng tín dụng, hỗ trợ giúp nông dân vay hàng trăm tỷ đồng. Các nguồn vốn đã giúp nông dân đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần tích cực xây dựng nông thôn mới và ổn định chính trị, an ninh, trật tự, hạn chế tín dụng đen ở nông thôn.

 
Tính đến ngày 31/12/2021, 100% Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện, 91,1% Hội Nông dân cấp xã đã kí hợp đồng ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội với số tiền đạt 68.556 tỷ đồng, cho 1.989.525 thành viên là hội viên, nông dân vay vốn thông qua 53.437 Tổ tiết kiệm & vay vốn. 62/63 tỉnh, thành Hội ký chương trình phối hợp với chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT với dư nợ đạt 67.834 tỷ đồng thông qua 26.208 Tổ vay vốn với 635.149 thành viên. Ngoài ra, Hội Nông dân một số tỉnh, thành phố còn phối hợp với các ngân hàng khác (ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín...).

 
Như vậy, tổng nguồn vốn huy động từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong cả nước ước tính khoảng trên 130.000 tỷ đồng, cho trên 3 triệu hội viên nông dân vay. Trong quá trình giải ngân vốn vay, các dự án cần trích phần nhỏ để đóng phí BHNN (một phần hay tất cả khoản phí). Cũng như Quỹ HTND, giải pháp này không chỉ đảm bảo cho nông dân không bị trắng tay nếu mùa vụ sản xuất gặp rủi ro, mà đồng thời đảm bảo an toàn nguồn vốn, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi của các ngân hàng và tổ chức tín dụng.

 
Thứ tư, từ phần trích ra của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đầu vào và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm đầu ra: Với chủ trương kêu gọi, ban hành chính sách và tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp (đến nay đã có 14.000/tổng số gần 1 triệu doanh nghiệp trên cả nước), đặc biệt chủ trương xây dựng mối liên kết 4 nhà đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau giữa doanh nghiệp và nông dân. Lợi ích của người nông dân gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và ngược lại. Do vậy, để đảm bảo mối quan hệ bền vững, lâu dài, tin cậy và phát triển, doanh nghiệp cần cùng với nông dân quản trị rủi ro trong sản xuất, thông qua việc trích một phần kinh phí (trong hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ, hợp đồng mua bán vật tư nông nghiệp trả chậm…) để đóng phí BHNN. Đây là giải pháp xây dựng lòng tin và quản trị rủi ro giữa nông dân và doanh nghiệp. Sẽ giảm tối đa thiệt hại cho hai bên nếu rủi ro xảy ra vì đã có BHNN chi trả.

 
4. Giải pháp tài chính vi mô, tín dụng nội bộ và phát huy nội lực của nông dân: Qua việc khảo sát, điều tra (tại Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Huế, An Giang, Cà Mau) và các báo cáo của Hội Nông dân một số tỉnh, thành phố cho thấy, Hội Nông dân đã có các loại Quỹ (Quỹ hỗ trợ giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế gia đình; Quỹ nội bộ do các thành viên đóng góp và quản lý cho vay; Quỹ tương thân tương ái; hoặc có Quỹ hoạt động gần giống mô hình “hụi”, “họ” nhưng với độ tin cậy và an toàn cao vì trong nhóm hộ nông dân …). Qua đó, góp phần phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó, sẻ chia, hỗ trợ lẫn nhau, tính cố kết cộng đồng vốn là thế mạnh từ văn hóa ngàn đời nay của người nông dân. Vì vậy, việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục nông dân trích một phần vốn khi vay quỹ đóng một phần phí BHNN để phòng trừ rủi ro cũng là giải pháp khả thi, là giải pháp bảo vệ nguồn vốn vay không bị thất thoát, khó thu hồi.

 
5. Giải pháp phối hợp giữa Hội Nông dân Việt Nam với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của gần 100 doanh nghiệp bảo hiểm (cả trong nước và nước ngoài) hoạt động trong cả 2 lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ. Đây là một Hiệp hội lớn, hoạt động tại Việt Nam đã trên 50 năm theo quy định pháp luật. Như vậy, Hội Nông dân Việt Nam cần thiết phải phối hợp với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam để triển khai các chủ trương, chính sách phát triển BHNN cho nông dân, thông qua đó được tư vấn, hỗ trợ và giải quyết các vấn đề đặt ra; có tiếng nói chung trong quá trình tham mưu chính sách về BHNN vừa thuận lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm, vừa thuận lợi cho nông dân. Nội dung chính khi Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam là: (1) Công tác tuyên truyền, vận động; (2) Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ; (3) Công tác tham mưu chính sách; (4) Phối hợp xử lý những vấn đề về giải quyết tranh chấp, khiếu nại về BHNN.

 
6. Giải pháp huy động nguồn lực từ các chương trình dự án nước ngoài và phối hợp với các tổ chức quốc tế triển khai BHNN: Những năm vừa qua, các nguồn tài trợ, vận động từ các dự án do các tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho các cấp Hội Nông dân Việt Nam ngày càng nhiều, có xu hướng tăng hàng năm.

 
Việc huy động nguồn lực từ các chương trình, dự án nước ngoài và phối hợp với các tổ chức quốc tế triển khai BHNN cho nông dân là rất cần thiết, từ các nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế, Hội Nông dân các cấp đã có điều kiện thuận lợi, hỗ trợ kinh phí mời tư vấn đủ năng lực để thực hiện các hoạt động đào tạo, tập huấn, hoàn thiện bộ giáo trình và tài liệu tuyên truyền về BHNN. Qua đó, cán bộ Hội Nông dân đã được nâng cao năng lực, hiểu biết về BHNN, nhiều chính sách của nhà nước về BHNN được tuyên truyền đến cán bộ Hội ở cơ sở.  

 
7. Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức Hội Nông dân các cấp trong việc thúc đẩy BHNN

(1) Trước hết, cần xác định BHNN là việc làm cần thiết đối với nông dân. Trong giai đoạn đầu, còn nhiều khó khăn về nguồn lực tài chính, nhà nước cần có sự hỗ trợ bằng các chính sách cụ thể. Hội Nông dân Việt Nam với tư cách là tổ chức chính trị - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân cần coi đây là một nhiệm vụ và có Nghị quyết, có nội dung và giải pháp tuyên truyền vận động hiệu quả; có chỉ đạo và hướng dẫn từ Trung ương đến địa phương một cách hệ thống, bài bản, lâu dài để đạt kết quả.

 
(2) Tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia, nhà quản lý để tham mưu, tư vấn chủ trương, pháp luật và chính sách cho Đảng và Nhà nước về BHNN cho nông dân. Thực sự là tiếng nói có tính đại diện, có trọng lượng trong việc ban hành các chính sách của nhà nước về BHNN.

 
(3) Hội Nông dân Việt Nam các cấp phải là người tham gia tổ chức thực hiện chính sách BHNN một cách có hiệu quả (tránh tình hình có giai đoạn các cấp Hội Nông dân Việt Nam đứng ngoài cuộc đối với vấn đề BHNN).

 
(4) Tích cực phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện đánh giá thiệt hại và chi trả bồi thường cho nông dân khi có rủi ro xảy ra; đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của nông dân khi có sự tranh chấp, khiếu nại về việc bồi thường.

 
(5) Phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội và doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội để xây dựng các mô hình thí điểm về BHNN cho nông dân. Trên cơ sở đó, đánh giá rút kinh nghiệm và chỉ đạo nhân rộng.
 

8. Nhóm các giải pháp về công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện

(1) Các cấp Hội cần có kế hoạch trong từng giai đoạn, kế hoạch công tác hàng năm; trong đó đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu, nội dung nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để triển khai trong các cấp Hội, trong đội ngũ cán bộ và hội viên nông dân.

 
(2) Coi trọng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để thống nhất nhận thức, thấm nhuần quan điểm, đồng thuận và nghiêm túc trong chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện những mục tiêu và giải pháp đặt ra.

 
(3) Phương pháp triển khai cần có lựa chọn địa bàn, đối tượng để xây dựng mô hình điểm phù hợp với đặc điểm khu vực, vùng miền, địa phương.

 
(4) Trong chỉ đạo, có phân giao nhiệm vụ cho tập thể, cá nhân phụ trách để tránh hiện tượng quan liêu, lãng quên nhiệm vụ. Đồng thời thường xuyên có đánh giá, tổng kết kịp thời. Qua đó nhận diện các mô hình mới và cách làm hay, hiệu quả; nhìn nhận những tồn tại, hạn chế, tìm ra nguyên nhân để có giải pháp phù hợp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy BHNN.

 
(5) Coi trọng công tác thi đua, khen thưởng các tập thể và cá nhân nghiêm túc triển khai và có kết quả tích cực.

Xem "Bài 2: Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra" tại đây
Nguyễn Khắc Toàn - Ủy viên Ban Thường vụ, Chánh Văn phòng Trung ương Hội
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
Tỷ giá
EUR
24,085.19
GBP
27,118.58
USD
24,020.00