Ngày 18/8, tại Phiên họp toàn thể lần thứ hai, cho ý kiến vào chủ trương tích hợp các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG), Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quàng Văn Hương đề xuất cần bổ sung đối tượng "hộ mới thoát nghèo" vào dự thảo Nghị quyết của Chính phủ để đảm bảo tính bền vững, tránh tình trạng tái nghèo do mất đột ngột các chính sách hỗ trợ.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quàng Văn Hương đề xuất bổ sung đối tượng "hộ mới thoát nghèo" vào dự thảo Nghị quyết của Chính phủ để đảm bảo tính bền vững, tránh tình trạng tái nghèo do mất đột ngột các chính sách hỗ trợ. Ảnh: QH
Phải thiết kế được một phương thức quản trị mới
Tham gia góp ý kiến tại phiên họp, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn ĐBQH thành phố Huế) bày tỏ sự đồng tình cao với chủ trương hợp nhất các CTMTQG giai đoạn 2026 - 2030 thành một chương trình mục tiêu quốc gia phát triển về văn hóa, xã hội, nông thôn mới, dân tộc và miền núi.
Đại biểu đánh giá đây là bước chuyển quan trọng về phương thức quản trị và chính sách phát triển. Nếu thực hiện tốt, việc hợp nhất sẽ khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, trùng lặp đối tượng, chồng chéo dự án, giảm đầu mối quản lý và tăng tính liên kết giữa phát triển kinh tế với phát triển con người - vốn là trung tâm của mọi sự phát triển.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng: Hợp nhất không đơn thuần là hợp nhất 4 văn bản hoặc 4 dòng ngân sách. Điều quan trọng hơn là phải thiết kế được một phương thức quản trị mới, trong đó các chính sách được tích hợp nhưng phải giữ giá trị, mục tiêu và quyền lợi đặc thù đã được Quốc hội quyết định.
Về mặt thuật ngữ và nội dung, đại biểu cho rằng dự thảo hiện tại đang dừng ở ngưỡng "gộp" chứ chưa thực sự "tích hợp". Lý do là dự thảo gộp đặt các nhóm mục tiêu cạnh nhau mà chưa xử lý mối quan hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực như: phát triển con người, bản sắc và sức mạnh tinh thần; đầu tư cho con người và chất lượng nguồn nhân lực; bảo đảm chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu; phát triển không gian sống, hạ tầng kinh tế và thu nhập; vừa là nhóm chính sách đặc thù, vừa là địa bàn có mức độ thiếu hụt dịch vụ và điều kiện phát triển cao.
Từ thực tiễn đó, đại biểu đề xuất mô hình một Chương trình nhưng hai tầng quản trị. Theo đó, tầng thứ nhất bảo toàn 4 trụ cột chuyên ngành (Văn hóa; Giáo dục - Đào tạo; Y tế - Dân số; Nông thôn mới - Giảm nghèo - Phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN); tầng thứ hai tích hợp các mục tiêu xuyên suốt (phát triển con người, thu hẹp khoảng cách phát triển và thiếu hụt dịch vụ cơ bản, phát triển bền vững, chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu).
Bên cạnh đó, đại biểu kiến nghị bổ sung cơ chế "ma trận tích hợp" giữa lĩnh vực – địa bàn – đối tượng – kết quả đầu ra. Ví dụ, một xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số không nên nhìn nhận đơn thuần là đối tượng riêng của chương trình dân tộc hay nông thôn mới.
Ở đó đồng thời tồn tại nhu cầu về trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa, nước sạch, sinh kế, đào tạo nghề và chuyển đổi số. Nguồn lực phải được thiết kế để giải quyết bài toán phát triển tổng thể của một địa bàn, tránh tình trạng mỗi ngành thực hiện một dự án riêng rẽ trên cùng một địa phương.
Đại biểu cũng đề nghị nâng nguyên tắc "không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng cốt lõi và quyền lợi đã được Quốc hội quyết định" thành nguyên tắc xuyên suốt, đồng thời bắt buộc đánh giá tác động đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sau khi tích hợp.
Đồng quan điểm về tính chất tổng thể của sự tích hợp, Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc Leo Thị Lịch đề nghị phải sửa cụm từ "mục tiêu quan điểm thống nhất các chương trình" thành "mục tiêu quan điểm tích hợp các chương trình" để bám sát Nghị quyết của Bộ Chính trị và Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đại biểu Leo Thị Lịch phân tích, dù các phụ lục của dự thảo đã tách được chính sách trực tiếp, gián tiếp cho vùng dân tộc thiểu số, nhưng lại thiếu một Phụ lục tổng hợp đối chiếu tổng thể.
"Nếu không có danh mục so sánh 7 nhiệm vụ trọng tâm của các chương trình để chỉ ra cái nào trùng lặp, cái nào giữ nguyên kế thừa và cái nào phát triển mới, thì nội dung tích hợp vẫn sẽ bị rời rạc theo từng lĩnh vực chuyên ngành mà thiếu đi căn cứ pháp lý và thực tiễn mang tính tổng thể", đại biểu nhận định.
Cần bổ sung quy định miễn trừ cắt giảm trần vốn trung hạn đối với các dự án chậm giải ngân tại địa bàn xã đặc biệt khó khăn
Tài chính và cơ chế phân bổ nguồn lực là yếu tố sống còn quyết định sự thành bại của chương trình trong thực tiễn, đại biểu Nguyễn Thị Sửu khẳng định: Cần làm rõ ranh giới giữa quyền quyết định của Quốc hội và quyền điều hành của Chính phủ. Việc giao cho Chính phủ quy định quá nhiều nội dung quan trọng (cơ cấu nguồn vốn, cơ quan điều phối, tiêu chí phân bổ, cơ chế đặc thù) dễ dẫn đến tình trạng phát sinh quá nhiều văn bản dưới luật, nghị định, thông tư rườm rà. Quốc hội không cần đưa định mức chi tiết vào Nghị quyết nhưng bắt buộc phải quyết định rõ khung tài chính và các nguyên tắc có tính ràng buộc.
Về phương thức phân bổ vốn, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề xuất thiết kế theo 3 lớp: nguồn lực bảo đảm tối thiểu để thực hiện các nhiệm vụ bắt buộc và quyền lợi cốt lõi; nguồn lực phân bổ theo mức độ thiếu hụt (căn cứ dân số, hộ nghèo, điều kiện KT-XH, địa bàn đặc biệt khó khăn, mức độ thiếu hụt hạ tầng, y tế, giáo dục); nguồn lực phân bổ theo kết quả đầu ra, hiệu quả sử dụng vốn và mức độ cải thiện đời sống người dân.
Đại biểu đặc biệt cảnh báo việc chỉ dựa vào tỷ lệ giải ngân để phân bổ vốn. Nếu địa phương giải ngân chậm mà bị cắt giảm vốn thì sẽ tạo ra nghịch lý: địa phương càng khó khăn, năng lực chuẩn bị đầu tư càng hạn chế thì càng khó giải ngân và hậu quả là lại càng khó tiếp cận nguồn lực trong các năm tiếp theo.
Liên quan đến vấn đề này, từ góc độ địa phương, đại biểu Cil Bri (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) đề xuất bổ sung quy định cứng tối thiểu 35 - 40% tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương của chương trình phân bổ trực tiếp cho các chính sách đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Mặc dù tỷ lệ định hướng 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên là phù hợp chung, nhưng với vùng DTTS&MN, các lĩnh vực y tế cơ sở, bảo tồn văn hóa phi vật thể, đào tạo nghề, trợ giúp pháp lý, duy trì đội ngũ cộng tác viên dân số phụ thuộc hoàn toàn vào vốn thường xuyên. Do đó, nên giao thẩm quyền cho HĐND cấp tỉnh được điều chỉnh linh hoạt tỷ lệ này trong một biên độ nhất định.
Cần bổ sung quy định miễn trừ cắt giảm trần vốn trung hạn đối với các dự án chậm giải ngân tại địa bàn xã đặc biệt khó khăn nếu nguyên nhân xuất phát từ lý do khách quan (vướng mắc thủ tục đất đai, địa hình, thời tiết); Nâng hạn mức dự án đặc thù giao cho cộng đồng tự thực hiện từ dưới 500 triệu đồng lên dưới 1 tỷ đồng; áp dụng hình thức khoán chi theo sản phẩm đầu ra đối với các mô hình sinh kế hộ gia đình để giảm bớt chứng từ chi tiết gây phiền hà cho người nghèo.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Đinh Thị Phương Lan đánh giá cao sự chuẩn bị công phu, khoa học của Chính phủ khi đã chuyển từ việc quy định chi tiết số lượng hoạt động sang định hướng nội dung.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc đề nghị Bộ Tài chính làm rõ cơ sở ấn định con số 80.000 tỷ đồng cho vốn thường xuyên ở cấp Trung ương. Bên cạnh đó, đại biểu đồng tình với việc dự thảo quy định mức vốn tối thiểu để tạo khung pháp lý vững chắc. Đánh giá về vốn tín dụng chính sách, đại biểu đề nghị không nên quy định cứng mức vốn tín dụng (dự thảo đang ghi 23.000 tỷ đồng và 45.000 tỷ đồng bao gồm cả vốn huy động khác) mà nên mở rộng kênh này vì đây là phương thức hỗ trợ có điều kiện mang lại hiệu quả rất cao.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Đinh Thị Phương Lan cũng đề nghị Bộ Tài chính cung cấp thêm thông tin, cơ sở thực tiễn về việc "không sử dụng ngân sách Trung ương của chương trình để chi cho tiền lương, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, khảo sát lập kế hoạch, truyền thông, vận hành, duy tu...", tránh gây khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện ở cơ sở.
Rà soát pháp lý, phạm vi và đối tượng, tránh khoảng trống chính sách
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quàng Văn Hương chỉ ra rằng, thực chất đang lồng ghép và xử lý công việc của các chương trình do các giai đoạn trước tích hợp chưa triệt để.
Nhấn mạnh Điều 4 dự thảo Nghị quyết là "cái gốc" của toàn bộ chính sách, đại biểu đề nghị rà soát kỹ sự thống nhất giữa Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ về phạm vi, địa bàn. Cần rà soát chính xác hơn 1.500 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 248 xã biên giới, các xã đảo, an toàn khu và xã bãi ngang ven biển để đưa vào phạm vi điều chỉnh đồng bộ.
Thống nhất thuật ngữ "người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo" thay vì viết chung chung là "người nghèo". Đặc biệt, cần bổ sung đối tượng "hộ mới thoát nghèo" vào dự thảo Nghị quyết của Chính phủ để đảm bảo tính bền vững, tránh tình trạng tái nghèo do mất đột ngột các chính sách hỗ trợ.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quàng Văn Hương đề nghị phải làm rõ khái niệm "đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi" là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn hay tất cả các dân tộc sống ở vùng miền núi (theo tinh thần Hiến pháp) để địa phương dễ áp dụng. Đồng thời, các quy định hỗ trợ đất đai phải tuân thủ Luật Đất đai, bảo đảm nguyên tắc thống nhất để phục vụ công tác kiểm tra, kiểm toán.
"Quy định "một đối tượng trùng chính sách thì chỉ hưởng một chính sách cao nhất" cần làm rõ cấp nào có thẩm quyền quyết định. Trường hợp một hộ gia đình có nhiều thành viên thuộc các đối tượng thụ hưởng khác nhau của các chương trình thành phần thì không thể áp đặt việc cả hộ chỉ được nhận một chính sách", ông Hương nói thêm.