image banner
Nông dân lạc vào "ma trận" với 29.000 loại phân bón, doanh nghiệp kiến nghị tăng hậu kiểm, nâng chế tài xử phạt
Lượt xem: 11
Với khoảng 29.000 tên sản phẩm được cấp phép lưu hành, thị trường phân bón vẫn tồn tại tình trạng bao bì lập lờ, dễ khiến nông dân hiểu nhầm về nguồn gốc và chất lượng. Một số sản phẩm in nổi bật các chữ như DAP, NPK, Kali cùng thông tin về công nghệ, chất lượng Mỹ, châu Âu…, trong khi thành phần thực tế lại được ghi ở mặt sau hoặc tem phụ với cỡ chữ nhỏ.
Anh-tin-bai
Ông Vũ Duy Hải, Tổng Giám đốc Vinacam cho biết, với khoảng 29.000 tên sản phẩm được cấp phép lưu hành, thị trường phân bón vẫn tồn tại tình trạng bao bì lập lờ, dễ khiến nông dân hiểu nhầm về nguồn gốc và chất lượng.

"Ma trận" phân bón

Ngày 20/8, tại Tọa đàm: "Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng, kiến tạo phát triển bền vững", ông Vũ Duy Hải, Tổng giám đốc Vinacam cho biết, ngành sầu riêng nói riêng và nông sản Việt Nam nói chung đang đối mặt ít nhất 4 điểm nghẽn lớn, liên quan đến chất lượng vật tư nông nghiệp, kiểm soát hóa chất, tiêu chuẩn xuất khẩu và sự phối hợp giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý.

Với khoảng 29.000 tên sản phẩm được cấp phép lưu hành, thị trường phân bón vẫn tồn tại tình trạng bao bì lập lờ, dễ khiến nông dân hiểu nhầm về nguồn gốc và chất lượng. Một số sản phẩm in nổi bật các chữ như DAP, NPK, Kali cùng thông tin về công nghệ, chất lượng Mỹ, châu Âu…, trong khi thành phần thực tế lại được ghi ở mặt sau hoặc tem phụ với cỡ chữ nhỏ.

Việc sử dụng phân bón không đúng thành phần, đặc biệt với cây sầu riêng, có thể ảnh hưởng sinh trưởng, làm tăng nguy cơ dư lượng và khiến sản phẩm không đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Doanh nghiệp kiến nghị tăng kiểm duyệt trực tiếp bao bì, hậu kiểm thông tin ghi trên sản phẩm và nâng chế tài xử phạt. Sản phẩm lưu hành phải đúng mẫu bao bì được phê duyệt, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm nếu thông tin gây ngộ nhận.

Một vấn đề khác là Cadimi trong phân bón và nông sản. Trước khi xuất hiện những cảnh báo mạnh từ năm 2022, việc kiểm soát Cadimi chưa được chú trọng đúng mức, trong khi thông tin và xét nghiệm đối với phân bón lưu thông trên thị trường còn hạn chế.

Do Cadimi có thể hiện diện trong phân bón chứa lân, đặc biệt trong điều kiện đất chua phèn, Vinacam cho rằng cần kiểm soát ngay từ nguồn vật tư đầu vào. Ngày 1/6/2026, doanh nghiệp đề xuất giảm giới hạn Cadimi trong phân DAP và phân lân từ tối đa 12 ppm xuống khoảng 5-6 ppm; phân hữu cơ xuống 2-3 ppm; đồng thời bổ sung quy định kiểm soát Cadimi đối với NPK và các loại phân có chứa lân.

Vinacam cũng đề xuất khuyến khích sản xuất, nhập khẩu các dòng DAP có hàm lượng Cadimi thấp, kết hợp các chất cải tạo đất và vi lượng nhằm hạn chế nguy cơ cây hấp thụ Cadimi.

Vàng O được một bộ phận người dân sử dụng trong xử lý sau thu hoạch nhằm kéo dài bảo quản, tạo màu vàng đẹp và giúp sầu riêng chín đều. Tuy nhiên, khi chất này bị cảnh báo về nguy cơ gây hại, việc thiếu sản phẩm thay thế an toàn có thể khiến người dân tự tìm giải pháp khác, tiềm ẩn rủi ro.

Do đó, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan chuyên môn nhanh chóng nghiên cứu, công nhận và phổ biến các chế phẩm sinh học hoặc hóa học an toàn có thể thay thế Vàng O. Đồng thời, cơ quan quản lý cần chủ động chuẩn bị trước nguy cơ các thị trường nhập khẩu tiếp tục siết dư lượng Clo, Asen và những chất nguy hại khác.

Hướng mạnh xuất khẩu sầu riêng cấp đông để hạn chế rủi ro

Còn theo ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới, điểm nghẽn hiện nay của ngành sầu riêng nằm ở khâu tổ chức thực hiện chứ không hẳn nằm ở quy định pháp luật. Các quy định pháp luật đa số đã tương đối đầy đủ, nhưng vấn đề là triển khai trên thực tế. Ví dụ, đăng ký mã số vùng trồng không phải việc quá phức tạp, nhưng chúng ta lại làm cho nó trở nên phức tạp.

Vấn đề thứ hai là chất lượng. Không chỉ riêng sầu riêng mà đối với nông sản, đặc biệt là ngành hàng rau quả, chất lượng là vấn đề cực kỳ quan trọng. Nhưng hiện nay, cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về chất lượng nông sản? Khi xảy ra sự cố về chất lượng thì cơ quan nào giải quyết và phải giải quyết kịp thời?

Theo ông Mười, hiện nay, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang quản lý nhiều nội dung, trong khi Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cũng quản lý về chất lượng. Nhưng vấn đề là đơn vị nào thực sự nắm được bức tranh tổng thể và có kế hoạch giảm rủi ro về chất lượng?

Ví dụ, năm nay chất lượng nông sản của chúng ta đang ở mức nào? Chúng ta phải đánh giá được mức độ, phải có số liệu cụ thể, có kế hoạch và có lộ trình. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa thấy một đơn vị nào đứng ra công bố rõ chất lượng nông sản, chất lượng rau quả của Việt Nam đang ở mức nào và đến thời điểm nào chúng ta cơ bản bảo đảm được chất lượng.

"Đây là vấn đề cần có địa chỉ, cần có cơ quan chịu trách nhiệm và có lộ trình thực hiện. Tôi chốt lại một vấn đề: để giải quyết các điểm nghẽn, chúng ta phải phân công đúng người, đúng việc, đúng nhiệm vụ. Khi phân công đúng thì mọi thứ sẽ được giải quyết", ông Mười nhấn mạnh.

Trong khi đó, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group Nguyễn Đình Tùng cho rằng, câu chuyện về Cadimi trong sầu riêng, đặc biệt tại một số vùng như Đắk Lắk và Đồng bằng sông Cửu Long được đề cập nhiều. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ vấn đề ở từng vùng, từng trường hợp cụ thể.

Các thị trường nhập khẩu hiện nay không chỉ nhìn vào một vấn đề đơn lẻ, bởi sầu riêng Việt Nam không chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc mà còn đi nhiều thị trường trên thế giới.

Xuất khẩu trái cây tươi, đặc biệt là sầu riêng, là lĩnh vực có rủi ro cao vì khi xảy ra sự cố gần như không có thời gian để sửa sai. Chỉ cần một vấn đề trong quá trình kiểm tra, logistics hay thông quan, hàng trăm container có thể phải quay đầu, không thể tiêu thụ do đặc thù sầu riêng cần thời gian chín. Do đó, cần đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ chế biến, đặc biệt là công nghệ cấp đông.

Thời gian qua, khi gặp khó khăn về kiểm nghiệm, nhiều sản phẩm sầu riêng đã được đưa vào cấp đông để xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ và các thị trường khác. Nếu không có hệ thống cấp đông, ngành hàng sầu riêng sẽ rất dễ bị ảnh hưởng khi gặp các vấn đề phát sinh. Vì vậy, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.

Một vấn đề khác là câu chuyện thông quan. Hiện nay, phần lớn sầu riêng vẫn xuất khẩu bằng đường bộ, trong khi vận chuyển bằng đường biển chưa phát triển tương xứng. Việc kiểm dịch tại các cảng của Trung Quốc hiện còn những khó khăn nhất định, khiến doanh nghiệp phải lựa chọn đường bộ dù chi phí cao hơn.

Có những trường hợp doanh nghiệp phải chấp nhận chi phí vận chuyển khoảng 3.000-4.000 USD cho một chuyến xe thay vì đi container đường biển với chi phí thấp hơn. Vì vậy, cần có sự phối hợp giữa hải quan Việt Nam và hải quan Trung Quốc, kết nối dữ liệu để tạo luồng xanh cho hàng hóa xuất khẩu, giảm rủi ro kiểm tra lại. Nếu phát triển được vận tải biển, doanh nghiệp sẽ giảm áp lực rất lớn cho các cửa khẩu phía Bắc.

Về mã số vùng trồng, cần nhìn lại câu chuyện liệu quá trình này đã thực sự được đơn giản hóa hay chưa. Mã số vùng trồng là yêu cầu gắn với xuất khẩu, trong đó thị trường nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và phê duyệt. Đồng thời, khi thực hiện số hóa mã số vùng trồng cần tính đến đặc điểm sản xuất hiện nay, bởi số lượng hộ dân đủ sản lượng để tự cung cấp một container xuất khẩu là rất ít.

Ông Tùng cũng cho rằng, việc tăng thêm vai trò quản lý của địa phương là cần thiết, nhưng cũng cần chuẩn bị kỹ về năng lực thực hiện. Nếu quy trình quản lý phát sinh thêm nhiều yêu cầu, thủ tục mà địa phương và người dân chưa sẵn sàng thì sẽ tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp. Mã số vùng trồng chính là "tấm hộ chiếu" để hàng hóa xuất khẩu. Vì vậy, việc quản lý cần chặt chẽ, nhưng đồng thời phải rõ ràng, thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân có thể thực hiện hiệu quả.

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1